Đăng bởi: quiet_volcano | Tháng Mười Một 19, 2009

Vì lợi ích cục bộ của hệ thống ngân hàng hay của ai?

Luật vị dân sinh chứ không vị luật

Dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước đã không đề cập đến “lãi suất cơ bản” và trong phiên thảo luận tại Quốc hội Thống đốc đã bị nhiều đại biểu chất vấn.

Bà phó chủ nhiệm Uỷ  ban Tư pháp của Quốc hội truy tới tấp: Uỷ ban của bà đã bốn lần bác bỏ những đề nghị của Ngân hàng Nhà nước về lãi suất cơ bản; nay Dự thảo lại cố tình bỏ đi.

Bà không thoả mãn với trả lời của Thống đốc và cho rằng Ngân hàng Nhà nước “đã trình hai dự án luật mà một trong những nội dung là đưa các tổ chức tín dụng thoát khỏi trần lãi suất cơ bản quy định trong Luật dân sự và có xu hướng của tự do hóa lãi suất huy động và lãi suất cho vay.

Người dân lo ngại nếu thực hiện các chính sách như vậy liệu tỷ giá đồng tiền có được giữ ổn định”. Không hiểu bà dựa vào điều tra xã hội học nào để khẳng định chắc nịch rằng “người dân lo ngại…” hay bà chỉ suy diễn vậy. Bà viện dẫn đến các Điều 467, 305, 436, 474, 576, 709 của Bộ luật dân sự, đến điều 163 của Bộ luật Hình sự.

Bà cho rằng “12 năm qua, bằng quy định về lãi suất cơ bản trong hệ thống pháp luật, Nhà nước đã thể hiện vai trò định hướng của mình trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội về cho vay vốn, để các quan hệ này diễn ra một cách trật tự, lành mạnh, ổn định cơ bản thị trường tiền tệ, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng cho vay lãi nặng, mang tính bóc lột”.

Bà còn gay gắt đặt câu hỏi rằng việc làm đó của Ngân hàng Nhà nước nhằm mục đích “bảo vệ cho lợi ích của ai, của Nhà nước, của nhân dân để ngăn chặn việc cho vay lãi nặng, ổn định thị trường tiền tệ, hay bảo vệ lợi ích cục bộ của các tổ chức tín dụng?

Hãy xem xét kỹ hơn một chút các ý kiến của bà phó Chủ nhiệm.

Thứ nhất, cần xác định dứt khoát rằng mục đích tối thượng của các luật là để phụng sự nhân dân, để phục vụ sự phát triển của đất nước, chứ không phải để phục vụ các cơ quan Nhà nước, càng không phải để phục vụ các luật khác. Luật vị dân sinh chứ không vị luật. Tôi hy vọng bà phó Chủ nhiệm Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội cũng thống nhất với quan điểm này.

Thứ hai, ai cũng biết các luật hiện hành của chúng ta còn rất nhiều quy định không sát với cuộc sống cần sửa đổi và cần sửa liên tục. Công việc chính của các vị dân biểu là làm việc đó. Vấn đề là làm thế nào. Nếu chỉ vin vào các điều luật hiện hành (có thể đã rất xa rời cuộc sống) mà không xem xét kỹ nhu cầu của cuộc sống thì cải cách pháp luật muôn đời dẫm chân tại chỗ. Bất cứ điều luật nào (kể cả của Hiến pháp) nếu không thoả mãn mục tiêu tối thượng nêu ở trên đều cần sửa đổi.

Bây giờ hãy quay lại với “lãi suất cơ bản” và “trần lãi suất”. Lãi suất cơ sở hay cơ bản (base rate) là lãi suất mà các ngân hàng thương mại lấy làm cơ sở để định ra lãi suất cho vay hay lãi suất tiền gửi của mình. Thường các ngân hàng dựa vào lãi suất chiết khấu hay lãi suất cho vay tối thiểu của ngân hàng trung ương (bank rate) làm cơ sở (tham chiếu chứ không bắt buộc).

Ngày nay trên thế giới lãi suất cơ sở không hoàn toàn dựa vào lãi suất của Ngân hàng trung ương nữa mà được xác định bởi quan hệ cung cầu vốn ngắn hạn được phản ánh qua lãi suất liên ngân hàng. Hiểu như thế thì thấy “lãi suất cơ bản” được quy định bởi khoản 12, điều 9 Luật Ngân hàng Nhà nước hiện hành – “lãi suất cơ bản là lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh” - là không chuẩn, không sát với cuộc sống.

Vấn đề không nằm ở lãi suất cơ bản

Thực ra, vấn đề rắc rối không phải là do lãi suất cơ bản mà là do quy định về trần lãi suất. Theo điều 476 của Bộ Luật Dân sự, mức trần này không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản và quy định này áp dụng cả cho các các tổ chức tín dụng.

Bất kể ai theo dõi hoạt động của hệ thống ngân hàng trong hơn chục năm qua đều thấy trần lãi suất như quy định hiện hành đã làm méo mó sự hoạt động của hệ thống, gây ra vô vàn khó khăn cho hoạt động ngân hàng và như thế thực sự đã cản trở sự phát triển của đất nước, chứ không “thể hiện vai trò định hướng của mình trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội về cho vay vốn, để các quan hệ này diễn ra một cách trật tự, lành mạnh, ổn định cơ bản thị trường tiền tệ, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng cho vay lãi nặng, mang tính bóc lột” như bà phó Chủ nhiệm khẳng định.

Để minh hoạ hãy lấy các số liệu của vài ngày qua. Lãi suất liên ngân hàng ngày 17-11-2009 là: lãi suất qua đêm 10%/năm; lãi suất kỳ hạn 2 tuần 10,8%/năm; lãi suất kỳ hạn dài hơn ở mức 11-12%/năm vượt xa trần lãi suất 10,5%/năm. Như thế lãi suất cơ sở của các ngân hàng thương mại (dựa vào lãi suất liên ngân hàng) vượt “lãi suất trần” và chẳng ăn nhập gì với “lãi suất cơ bản” theo luật định là 7%/năm cả.

Tình trạng này không chỉ bây giờ mới xảy ra mà đã xảy ra nhiều lần và kéo khá dài. Luật không sát với cuộc sống. Lãi suất huy động vốn hiện tại của các ngân hàng thương mại cũng khoảng 10%/năm. Để có thể hoạt động các ngân hàng phải cho vay với mức lãi suất 12-14%/năm. Nếu họ phải cho vay “theo quy định của luật” với lãi suất không quá 10,5%/năm thì toàn bộ hệ thống ngân hàng mau chóng phá sản vì thua lỗ.

Chính vì thế ngân hàng nào cũng phải tìm cách “lách” bằng phí hay các công cụ khác. Luật vô hình trung đã buộc toàn bộ hệ thống phải nói dối. Đấy là thực tế cuộc sống và chỉ ra cái lỗi lớn của những người làm luật.

Luật không sát cuộc sống, thì cuộc sống coi luật chẳng ra gì.  Đấy là một thực tế.

H. De Soto viết, “luật thịnh hành ngày nay ở phương Tây không đến từ các bộ sách phủ đầy bụi hoặc từ các sách luật chính thức của chính phủ. Nó là một thực thể sống, được sinh ra trong thế giới thực và được nuôi dưỡng bởi người dân bình thường khá lâu trước khi nó rơi vào tay của các luật sư chuyên nghiệp. Luật phải được khám phá ra trước khi nó có thể được hệ thống hoá.”

Ông trích dẫn nhà luật học Bruno Leoni,  “…luật là cái gì đó phải được phát hiện ra hơn là phải được ban hành và chẳng ai có uy quyền trong xã hội đến mức có thể đồng nhất hoá ý chí riêng của mình với luật của đất nước” (Sự bí ẩn của vốn, NXB Chính trị Quốc gia, tr. 192).

Việt Nam có bao nhiêu điều luật chẳng ăn nhập gì với cuộc sống? Hẳn là không ít, và quy định về lãi suất cơ bản và lãi suất trần là như vậy. Thế thì phải sửa các quy định đó, chứ không phải đi ra tay “xử các tổ chức vi phạm và làm bình ổn thị trường lãi suất” [thị trường lãi suất?] như đòi hỏi của bà phó Chủ nhiệm, vì nếu làm nghiêm theo lời khuyên của bà thì cả hệ thống sẽ sụp đổ. Hệ thống ngân hàng sụp đổ thì là tai hoạ cho nền kinh tế và cho nhân dân. Và xét cho cùng nếu làm thế là không vì dân mà vì ý chí riêng của ai đó. May là Ngân hàng Nhà nước đủ tỉnh táo để không nghe theo ý của bà.

Đúng là cần phải chống nạn cho vay nặng lãi. Song quy định hiện hành không chống được nạn cho vay nặng lãi. Bà phó Chủ nhiệm và các vị đại biểu Quốc hội hãy sát thực tế hơn và sẽ thấy ngay khẳng định của tôi là đúng. Có lẽ phải tìm các giải pháp khác sát thực tế hơn.

Nếu vẫn cứ muốn giữ lấy cái điều  467 của Bộ luật dân sự, thì tôi kiến nghị nên hành văn lại theo tinh thần thay “không quá 150% lãi suất cơ bản” bằng “không quá 200% lãi suất liên ngân hàng có cùng kỳ hạn hay có kỳ hạn gần nhất tương ứng” [ngưỡng 150% là quá thấp nên tôi kiến nghị 200% nếu không phải cao hơn, con số cụ thể có thể xác định trên cơ sở đo lường thực tiễn]. Chỉ cần thay như vậy là luật sát thực tế hơn và có thể giải toả được vô vàn khó khăn do chính bản thân luật mà các vị ban hành gây ra.

Mặt khác, cũng nên xem xét mức độ cho vay nặng lãi là bao nhiêu. Có thể tiến hành điều tra xã hội học để đo lường hay ước lượng. Liệu đã có điều tra nào như vậy để làm cơ sở cho các nhà làm luật. Tôi nghĩ là chưa.

Theo cảm nhận của tôi, nếu so với tổng tín dụng cỡ 1.300 ngàn tỷ đồng do hệ thống ngân hàng cung ứng cho nền kinh tế, thì tổng các khoản vay của người dân với nhau và được người dân coi là cho vay nặng lãi không thể quá 0,1% (một ngàn ba trăm tỷ). Nếu cảm nhận của tôi là đúng và xét đến tính bất khả thi của các chế tài đối với cho vay nặng lãi thì thực sự không cần mất quá nhiều công sức để bàn vấn đề này. Nên tìm cách khác để giải quyết vấn đề cho vay nặng lãi. Còn nếu suy nghĩ như bà phó Chủ nhiệm, thì theo tôi ít nhất 50% (tức khoảng 700 ngàn tỷ đồng) tín dụng là cho vay nặng lãi, xử lý nghiêm chắc chắn khiến hệ thống sụp đổ.

Độc giả có thể tự đánh giá giữa những người kiến nghị thay đổi quy định lãi suất cơ bản, lãi suất trần và những người khăng khăng muốn giữ chúng, thì ai vì dân và ai vì lợi ích cục bộ.

TS Nguyễn Quang A

Source: tuanvietnam.net

Đăng bởi: quiet_volcano | Tháng Mười Một 18, 2009

Nhóm lợi ích tại Trung Quốc

[Source: bauxitvn.net]

Một sự thực không ai chối cãi được là sau hơn 30 năm cải cách và mở cửa, Trung Quốc đại lục đã giàu mạnh vượt bực, nhưng trong các tầng lớp xã hội không phải ai cũng được hưởng lợi, đã xuất hiện cái gọi là “tầng lớp được lợi” (và như vậy tất nhiên sẽ có những tầng lớp, những nhóm người không được lợi hoặc được lợi ít). Khi đánh giá xem những ai, những nhóm người nào được hưởng lợi trong công cuộc cải cách mở cửa đó, các nhà nghiên cứu Trung Quốc có những ý kiến khác nhau. Có người gọi chung là “nhóm xứng đáng được hưởng lợi ích” nhưng cũng có người cho rằng gọi như vậy không chính xác vì trong cải cách và mở của đã xuất hiện “nhóm hưởng lợi ích xứng đáng” nhưng cũng đã xuất hiện “nhóm hưởng lợi ích không xứng đáng”. Cuối cùng, có người đã phân loại và gọi tên các nhóm người đó như sau: “nhóm lợi ích chính đáng”, “nhóm lợi ích cướp đoạt”, “nhóm lợi ích đặc biệt”.

Nhóm lợi ích cướp đoạt” là nhóm người thu được lợi ích dựa vào thủ đoạn phi pháp hay phạm tội để giành được đặc quyền phi pháp, do “quan hệ” hoặc “có chỗ dựa” (như có giấy phép xuất nhập khẩu, giao dich nội tuyến cổ phiếu, giành được đất giá rẻ, v.v.) mà tiến hành các hoạt động phi pháp hoặc phạm tội như buôn lậu, buôn bán ma túy, mại dâm, trốn lậu thuế, lừa gạt,dọa dẫm… Sở dĩ có tất cả những cái đó là do có “quan hệ vững chắc” và các loại nguyên nhân khác để trốn tránh mạng lưới pháp luật.

Đặc trưng của “nhóm lợi ích cướp đoạt” là do được sự bảo vệ của chế độ hiện hành và “mạng lưới quan hệ” nên những hoạt động phi pháp hoặc phạm tội của chúng không bị trừng phạt. Vì vậy “nhóm lợi ích cướp đoạt” rất muốn “duy trì hiện trạng” và là số người ra sức tẩy chay mọi cải cách dân chủ nhất. “Nhóm lợi ích cướp đoạt” phân bố rộng rãi trong, ngoài đảng, từ những người buôn bán trong dân gian đến nhân viên công vụ phổ thông tại tầng nấc cơ sở, đến tầng tầng, nấc nấc quan chức đảng chính, quân các cấp cho đến thường vụ Bộ Chính trị, trong đó lực lượng Bộ Chính trị là hùng mạnh nhất. “Nhóm lợi ích cướp đoạt” là sản phẩm song trùng của chế độ công hữu và chế độ chuyên chế – trong dân chúng, vào thời kỳ đầu của mở cửa khi đề xướng “cho phép một bộ phận người giàu lên trước”. Trước cải cách, Trung Quốc đại lục vẫn là chế độ công hữu, không tồn tại môi trường kinh doanh buôn bán theo chế độ tư hữu kiện toàn, có thể để cho người ta dùng thủ đoạn hoàn toàn hợp pháp kinh doanh buôn bán làm giàu, nhưng sau khi đã trải qua mười mấy năm cải cách, đến đầu những năm 90 của thế kỷ trước môi trường kinh doanh này mới hình thành và từng bước tạo ra một số vùng kinh tế phát triển. Trước đó, cái gọi là “kinh doanh buôn bán làm giàu” đều là “tích lũy tư bản nguyên thủy” không từ thủ đoạn nào; trong tầng lớp quyền lực, cũng giống như dân gian thiếu “môi trường kinh doanh buôn bán của chế độ tư hữu kiện toàn”, trong đảng cũng hoàn toàn chưa có chế độ “diệt trừ tham nhũng bằng lương cao, đề xướng liêm khiết”, sau này việc thi hành chế độ này không có hiệu quả, đã khiến quan chức các cấp có thể ngang nhiên “dùng quyền mưu lợi riêng” mà không bị trừng phạt (mà cũng chỉ nhờ có vậy mới có thể “giàu lên”).

Nhóm lợi ích đặc biệt là nhóm người mà quá trình bản thân họ thu được lợi ích không phạm pháp rõ ràng hoặc nghiêm trọng, nhưng cơ hội ban đầu để thu lợi thì không công bằng, ví dụ điển hình là tầng lớp “đảng thái tử” trong tầng lớp quan chức cao cấp trong đảng. Trong “đảng thái tử” chỉ có một ít người là một bước lên trời, phần lớn họ cũng đều trải qua sự rèn luyện từ tầng nấc thấp đến tầng nấc cao, có một số do không hủ bại hoặc ít hủ bại, thành tích cầm quyền xuất sắc mà còn được khá đông dân chúng hướng về. Tuy vậy, nhìn chung là do được bồi dưỡng từ tầng nấc này đến tầng nấc khác để lên tới địa vị cao, nên hầu hết họ thắng trong trong “bước chạy đầu tiên” – do là thân phận “thái tử đảng” mà có được thời cơ đặc biệt

Số phận “nhóm hưởng lợi ích đặc biệt” trong cải cách dân chủ là: nếu đảng cộng sản đổ, bọn họ sẽ mất quan vị, mất đi lợi ích hiện có, nhưng sẽ không bị thanh toán, bởi vì họ không hoặc ít phạm pháp. Một số trong bọn họ còn có thể thông qua thử thách mà trở thành lực lượng trung kiên của chính đảng mới sau đó, có người có thể như Yelsin, và Putin tổng thống Nga đầu tiên, và thứ hai sau khi Liên Xô tan rã (Yelsin, vào thời kỳ cuối nắm quyền mới bắt đầu hủ bại, và Putin cũng vào thời kỳ cuối cầm quyền mới có xu thế độc tài), do vậy mà sự chống đối của “nhóm lợi ích đặc biệt” đối với mọi cải cách dân chủ nhỏ hơn “nhóm lợi ích cướp đoạt”.

Trung Quốc đại lục có câu ca dao sinh động về bắt bọn tham quan ô lại, đại ý là, nếu “bắt luôn cả người đứng cạnh, sợ rằng khó tránh khỏi bắt oan, nhưng nếu cách một người bắt một người, sợ rằng để lọt lưới”, tức là tỷ lệ tham quan ô lại ở đại lục cao vô cùng, số thanh bạch trong “nhóm lợi ích đặc biệt” rất ít. Tuy nhiên số người trong “tập đoàn lợi ích đặc biệt” không nhiều vì phần lớn số “đảng thái tử” đều thuộc “nhóm lợi ích cướp đoạt”.

Nhóm lợi ích chính đáng là những người được hưởng lợi trong cải cách mở cửa nhưng không thuộc “nhóm lợi ích cướp đoạt” và “nhóm lợi ích đặc biệt”. Điển hình của nhóm người này là những thương nhân kinh doanh buôn bán cơ bản hợp pháp vào thời kỳ sau của cải cách mở cửa, những người quản lý cấp cao hoặc nhân viên kỹ thuật cấp cao, phần tử trí thức cấp cao trong các xí nghiệp vốn nước ngoài, xí nghiệp tư nhân và xí nghiệp quốc doanh, v.v.

“Nhóm lợi ích chính đáng” có sự khác biệt về bản chất với “nhóm lợi ích cướp đoạt” và “nhóm lợi ích đặc biệt” nói trên.

Trước tiên “nhóm lợi ích cướp đoạt” là nhóm phạm tội, “nhóm lợi ích chính đáng” là dân lành làm giàu hợp pháp, “nhóm lợi ích đặc biệt” là chỉ “đảng thái tử” được hưởng cơ hội đặc biệt, còn đại bộ phận “nhóm lợi ích chính đáng” là “những người bình thường” dựa vào sự phấn đấu và tài trí của mình mà làm giàu.

Thái độ của “nhóm lợi ích chính đáng” đối với cải cách dân chủ cũng hoàn toàn khác với “nhóm lợi ích cướp đoạt”, cũng không giống với “nhóm lợi ích đặc biệt”. “Nhóm lợi ích cướp đoạt” là kẻ chống đối mọi cải cách dân chủ đến cùng, còn “nhóm lợi ích đặc biệt” nói chung có thái độ tiêu cực đối với mọi cải cách dân chủ, nhưng một số ít có thể trở thành người thúc đẩy.

Trong việc duy trì chính thể hiện hữu tại Trung Quốc, “nhóm lợi ích cướp đoạt” là công thần lớn nhất, nó là hiện tượng cộng sinh, cộng vinh của chế độ một đảng chuyên chính, nó tạo ra một nước vừa giàu có, vừa hủ bại, vừa mở cửa lại chủ yếu dựa vào “mạng lưới hủ bại” để “duy trì hiện trạng”.

Vì sao các nhóm người khác ở Trung Quốc đại lục (những nông dân, công nhân, trí thức bình thường…) lại không được đề cập tới? Đó là câu hỏi mà người giới thiệu bài viết này muốn nêu.

Dương Danh Dy (tóm lược từ Tạp chí Quan sát số tháng 4 năm 2009)

Đăng bởi: quiet_volcano | Tháng Mười Một 18, 2009

Giá vàng nhảy múa và kỷ niệm đẹp về IDS

[Source: bauxitevn.net]

Sáng nay (17/11/2009), phiên chất vấn của kỳ họp QH được bắt đầu bằng sự trả lời của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu. Lòng dân mong mỏi các ĐB đặt câu hỏi và ông Thống đốc trả lời ra sao về cơn bão giá vàng chưa từng có trong lịch sử đất nước suốt 23 năm đổi mới. Tôi cũng như nhiều công dân khác vô cùng thất vọng vì người hỏi duy nhất về vấn đề này có ĐB Lê Hồng Sơn (Hà Nội) thì hỏi chưa “trúng”, mới chỉ chất vấn về chủ trương nhập khẩu vàng trở lại đã kịp thời hay chưa mà không truy xét đến căn nguyên của hiện tượng. Ông Thống đốc trả lời lại rất loanh quanh bao biện rằng, Ngân hàng Nhà nước từ năm 1999 chỉ quản lý vàng xuất khẩu có nguồn gốc khai thác, chế biến trong nước, còn các doanh nghiệp XNK vàng thương phẩm lại tuân thủ theo luật doanh nghiệp, luật XNK… Đặc biệt, những con số ông Giàu đưa ra như từ năm 1999 đến cuối năm 2008 ta nhập khẩu 279 tấn vàng, lượng vàng xuất khẩu năm 2009 (tính đến thời điểm trả lời chất vấn) mới chỉ là 37 tấn vàng dự trữ và 57 tấn vàng do khai thác, chế biến… thì khác xa với chính lời ông Giàu trả lời phỏng vấn báo chí ngày 11/11/2009 (chủ trương xuất 32 tấn và thực tế doanh nghiệp mới xuất 26, 7 tấn), càng khác xa với những số liệu thống kê mà tôi có được!?…

Chìm trong buồn nản, thất vọng, tôi chợt nhớ một kỷ niệm đẹp về  IDS, trong buổi sinh hoạt tọa đàm với GS James Riedel (Mỹ) vào 14h00 ngày 6/8/2009, tại 53 Nguyễn Du – Hà Nội. Vâng, tôi là một fan hâm mộ mọi buổi seminar của IDS. Các Think Tank quốc doanh của Việt Nam kể ra cũng không ít! Đó là Viện Nghiên cứu chiến lược của Chính phủ, rồi các Bộ, Ngành cũng có Viện Nghiên cứu chiến lược riêng của mình. Song các công bố phát đi từ các Think Tank kiểu ấy chỉ cho tôi cảm nhận mơ hồ về tầm nhìn, kỳ vọng xa vời mà ít thấy sự phản biện về một điều gì cụ thể. Duy chỉ có IDS, một Think Tank tư nhân do thầy Hoàng Tụy làm Chủ tịch Hội đồng Khoa học và anh Nguyễn Quang A làm Giám đốc điều hành đã cho tôi nhiều thông tin quý báu, sát thực với đời sống, bổ sung cho hành trang tri thức của tôi mỗi khi cầm bút.

Lần ấy, khoảng 2 ngày trước buổi seminar của GS James Riedel, cô Kim Ngân gửi qua e-mail cho tôi bản tóm tắt nội dung thuyết trình của diễn giả: “Khủng khoảng kinh tế thế giới hiện nay và những tác động đến VN”. Một báo cáo tuyệt vời của một bộ óc siêu việt, khai mở cho đầu óc ngu tối của cái thằng tôi dám mon men tìm hiểu sang lĩnh vực ngoài văn chương! Tôi say sưa đọc nó và hăm hở truy tìm các cứ liệu liên quan để có thể đủ tự tin trao đổi với vị GS khả kính trong giờ thảo luận. Tôi nhớ, hôm đó đã liều lĩnh đưa ra 2 câu hỏi cho GS James Riedel:

Một là người Trung Quốc (11/2008) đã tung ra gói kích cầu cho nền kinh tế của họ trong 2 năm 2009-2010 là 586 tỷ USD, nhưng trên thực tế họ chỉ dùng 175 tỷ USD từ ngân sách TW, còn lại là chính quyền địa phương và các doanh nghiệp lớn phải tham góp vào gói kích cầu đó dưới mọi hình thức. Hơn nữa, họ là nước xuất siêu sang Mỹ liên tục trong nhiều năm, riêng năm 2007, họ xuất siêu sang Mỹ là 252 tỷ USD, lớn hơn rất nhiều con số 175 tỷ USD từ ngân sách cho gói kích cầu. Việt Nam chúng tôi nhập siêu liên tục trong 10 năm lại đây, cỡ trên dưới 40% kim ngạch XNK, nhưng Chính phủ vừa đưa ra gói kích cầu 1 tỷ USD, chủ yếu là hỗ trợ lãi suất ngân hàng nên xảy ra tình trạng một số doanh nghiệp thuộc hàng đại gia có cơ hội đảo nợ, còn các doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ tiếp cận gói kích cầu cỡ 20% và cũng rất chậm. Thưa GS, ông bình luận thế nào về hai gói kích cầu VN- TQ?

Hai là seminar này diễn ra vừa gặp lúc ngành thống kê trong nước vừa công bố số liệu XNK 7 tháng đầu năm 2009. Chính phủ chúng tôi vừa đạt thành tích ngoạn mục trong điều hành kinh tế vĩ mô, trong lúc các thị trường nhập khẩu hàng tiêu dùng, nông lâm thủy sản của Việt Nam đều tụt giảm, nhưng nhập siêu chỉ ở mức 3,387 tỷ USD, thấp hơn rất nhiều so với cùng kỳ năm 2008 là 15,2 tỷ USD. Nhưng qua tìm hiểu của tôi thì đây là thành tích ảo vì cũng theo số liệu thống kê, quý I/2009, Việt Nam đột nhiên xuất khẩu 2,3 tỷ USD, dẫn đến một “thành tích” cực kỳ ngoạn mục so với cùng kỳ của 5 năm lại đây, là đã xuất siêu được 1,459 tỷ USD (tất nhiên chủ yếu nhờ xuất vàng đã nhập về những năm trước)!? Giáo sư nhận xét thế nào về động thái này của Chính phủ chúng tôi?

Giáo sư James Riedel rất lịch sự, chăm chú nghe hai câu hỏi của anh chàng lạ hoắc, chưa từng gặp trong chuyến đi thăm và làm việc ở Việt Nam. Ông luôn miệng tủm tỉm cười, im lặng hồi lâu… Chị Chi Lan ngồi đối diện thì nhìn tôi nheo mắt cười, khích lệ. Nhà văn Nguyên Ngọc ngồi bên trái tôi ghé tai hỏi nhỏ: “Cậu tìm đâu ra những con số quái đản và thú vị thế?”. Còn GS Chu Hảo ngồi bên phải tôi thì thầm “Ông chơi khó diễn giả mất rồi!”, rồi anh đỡ lời rằng người đặt câu hỏi là nhà văn Vũ Ngọc Tiến, không phải dân kinh tế nên ông có thể trả lời hoặc không cũng được… Thật thú vị vì mấy câu trả lời của GS James Riedel hôm đó đầy trí tuệ và cũng rất khôn khéo, tế nhị. Ông nói:

Về  câu hỏi thứ nhất, tôi thấy TQ đưa ra gói kích cầu khổng lồ, nhưng rất bài bản vì họ có sự cẩn trọng nghiên cứu, và dù có thực lực nhờ xuất siêu năm 2007 sang Mỹ 252 tỷ USD, họ vẫn lôi chính quyền địa phương và doanh nghiệp mạnh vào cuộc trong gói kích cầu. Còn gói kích cầu 1 tỷ USD của VN trong điều kiện nhập siêu liên tục thì tôi không rõ Chính phủ các bạn lấy tiền ở đâu? Riêng vế thứ hai của câu hỏi về thực trạng diễn ra khi triển khai gói kích cầu, tôi chưa có điều kiện tìm hiểu thực tế ở VN nên xin miễn trả lời. Các bạn hãy chờ xem, hiệu quả sẽ đến ngay thôi, chẳng cần đợi lâu.

Về  câu hỏi thứ hai, thú thực tôi cũng mù tịt thông tin, nhưng về nguyên tắc có thể thấy vàng là vật trao đổi ngang giá chung trong giao lưu tiền tệ quốc tế. Lần khủng hoảng kinh tế toàn cầu này khởi phát từ Mỹ, cụ thể hơn là các ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng thứ sinh (các tổ chức tiền tệ và môi giới tài chính) nên đồng USD sụt giảm, kéo theo giá vàng lên cao, tỷ giá giữa đồng EURO, YÊN so với USD cũng tăng. Bán vàng ồ ạt từ đầu năm, trong điều kiện dự trữ vàng của các bạn còn yếu, diễn biến đồng USD đang phức tạp là việc mạo hiểm. Tôi không dám bình luận về việc có hay không bệnh thành tích ở nước các bạn vì tôi không hiểu gì về nó. Chỉ biết rằng, vàng là thứ chịu lửa, người Việt có câu “lửa thử vàng…” là vì thế, nhưng người cầm vàng thì đừng dại mà đùa với lửa, phải không ông bạn nhà văn? (GS khôi hài kết thúc).

Đó là một kỷ niệm đẹp trong tôi về IDS. Từ buổi seminar (6/8/2009) đáng nhớ ấy, tôi cứ hồi hộp chờ đợi những dự báo ngầm rất thận trọng và tế nhị, đầy ẩn ý xa xôi của GS James Riedel. Thế rồi chỉ trong khoảng chưa đầy 2 tháng (30/8- 11/11/2009), giá vàng nhảy múa, tăng giá 39%, gấp 4 lần lãi suất gửi tiền tiết kiệm trong cả năm, giá USD lên tới 19 ngàn VNĐ/1 USD, giá EURO đạt ngưỡng 29 ngàn VNĐ/1 EURO!?… Phải chăng cơn bão giá vàng khủng khiếp, chưa từng có trong lịch sử này bắt nguồn từ căn bệnh thành tích quý I/2009 đạt cho được suất siêu 1,459 tỷ USD bằng việc ồ ạt xuất khẩu 2,3 tỷ USD, tương đương 84 tấn vàng (nếu tính cả những tháng sau, đến tháng 11/2009 là 2,678 tỷ USD, tương đương 130 tấn vàng)? Phải chăng kể từ quý I/2009, các đại gia trong giới kinh doanh vàng biết rõ kho dự trữ vàng quốc gia đã vơi cạn, không đủ sức ném ra lưu thông để bình ổn giá cả, trong khi đó, lượng vàng trong dân giá trị ước tính cỡ  23-24 tỷ USD, tương đương 800 tấn vàng nên họ đã âm thầm đầu cơ thu gom để rồi bất ngờ làm giá, tạo cơn sốt ảo, tha hồ kiếm lời, hốt bạc?…

Nghe ông Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu loanh quanh bao biện, bóp méo số liệu giữa nghị trường sớm ngày 17/11/2009, tôi càng buồn nản, thất vọng, càng bâng khuâng nhớ kỷ niệm đẹp về IDS. Là người viết văn, tôi đâu dám nhảy sang lĩnh vực nghiên cứu vàng và tiền tệ, chỉ tự nhủ rằng, ngòi bút mình nếu tách rời khỏi thực tế đời sống thì trang văn viết ra còn ý nghĩa gì, nên trở thành một fan hâm mộ IDS. Tôi cũng không muốn bình luận gì thêm về việc IDS tuyên bố tự giải thể, bởi trong bài “Nỗi lòng trí thức mùa Vu Lan” tôi đã bộc lộ hết tận đáy lòng. Giá như ĐB Lê Hồng Sơn, các vị ĐB Quốc hội khả kính hay các nhà quản lý vĩ mô của Chính phủ cũng như tôi, làm một thính giả trong ngày 6/8/2009, nghe buổi thuyết trình của GS James Riedel sẽ đỡ cho nhân dân mình biết bao! Giá như… ôi, giá như!…

Hà  Nội ngày 17/11/2009

Vũ Ngọc Tiến

Đăng bởi: quiet_volcano | Tháng tám 1, 2009

Vận động hành lang trong nền chính trị Mỹ

Vận động hành lang (sau đây dùng từ: lobby) là một từ rất phổ biến trong đời sống chính trị Mỹ, gắn liền với hoạt động của các nhóm lợi ích – hay nhóm gây áp lực. “Một khi đã đắc cử vào các cơ quan lập pháp hay hành pháp các cấp từ liên bang đến bang và địa phương, thì những thành viên Quốc hội và quan chức nhà nước sẽ bị cả một đạo quân “lobby” đông đảo bao vây và chiếu cố tận tình”. Tại Mỹ, trong nền chính trị hiện đại, lobby chính là việc dùng thế lực tiền bạc của tiền bạc để vận động và làm áp lực để Quốc hội hoặc các cơ quan nhà nước hành động theo chiều hướng phục vụ quyền lợi của tư bản. “Nói cách khác, tư bản đã bỏ tiền ra để sắp đặt người làm việc nhà nước , đôn đốc, theo dõi xem những người đó có phục vụ đúng quyền lợi của tư bản không”. Ngay cả một số cơ quan chính phủ trung ương và địa phương cũng dùng tiền bạc để lobby các nhà lập pháp. Tại thủ đô Washington, lobby là một trong năm nghề đông đảo nhất, bên cạnh các nghề làm công nhân viên chức nhà nước, ấn loát, dịch vụ pháp luật và dịch vụ du lịch. Tại đây, hiện có khoảng 5 vạn người sống bằng nghề này và đội ngũ ngày càng thêm đông đảo. Năm 1981 có 5.662 người làm lobby đăng ký hợp pháp tại Văn phòng thượng viện, đến năm 1986 đã lên tới hai vạn người, chưa kể thủ phủ các bang và các thành phố trong cả nước. Trong đội ngũ lobby, một số không ít là luật sư (ở Washington cứ 40 người dân thì có một người là luật sư) và những cựu quan chức chính phủ. Cựu Ngoại trưởng Henry Kissinger có thời kỳ làm lobby cho nước Nhật, cựu Bộ trưởng lục quân Clifford Alexander làm lobby cho một tập đoàn đầu tư Những tổ chức doanh nghiệp, công nghiệp hoặc những công ty càng lớn thì đội ngũ lobby của họ càng mạnh.

Về hình thức hoạt động, lobby không phải ở trong phòng họp, trên các phiên họp của nghị viện hay các uỷ ban của nghị viện, mà ở ngoài hành lang và hết sức phong phú bên ngoài trụ sở nghị viện với các cấp độ khác nhau. Ngoài việc chiêu đãi tiệc tùng liên miên, đưa các nghị sĩ đi chơi đâu đó bằng máy bay riêng hay mời dự hội thảo, hội nghị, những người làm lobby luôn sẵn sàng để chiều theo sở thích, ý muốn của những nhân vật quyền thế trong mọi tình huống. “Cái tục lệ dùng tiền bạc để vận động tranh cử và vận động làm luật này, luật khác, xét về bản chất, có thể sánh với tục “mua quan bán tước” trong thời phong kiến. Nó gây nhiều lạm dụng, tệ đoan và tai tiếng”. Bởi vì những luật lệ về lobby ở Mỹ rất thoáng nên không thể nào liệt kê hết các phương thức hoạt động của những kẻ “đổi chác mua bán quyền thế ” ở thủ đô Washington. Từ những kẻ chạy vòng ngoài chiêu đãi công nhân viên nhà nước ở cấp thấp, cho đến những người có vây cánh giao dịch mật thiết và kín đáo hoặc công khai với những thượng nghị sĩ và các thành viên nhà nước cấp cao.

Ở Mỹ, những lobby nhiều tiền và do đó nhiều thế lực nhất là những lobby đại diện cho các tập đoàn tư bản, tiêu biểu là:

Lobby công nghiệp quốc phòng: Có sức mạnh vô địch, chi phối Quốc hội và nhà nước. Nó đại diện cho đông đảo các công ty và các nhà thầu cực lớn, cung cấp máy bay, tàu chiến, súng, bom và mọi thứ hàng cần thiết cho quân đội Mỹ. Trong suốt thời gian của cuộc chiến tranh lạnh, đông đảo các nghị sỹ của cả hai phe đã liên hệ mật thiết với lobby của các công ty này. Trong kỳ tổng tuyển cử 1987 – 1988, những uỷ ban hành động chính trị của các công ty trong ngành công nghiệp quốc phòng đã ủng hộ trên 7 triệu đô la tiền cứng, tức là tiền ủng hộ trực tiếp cho các cá nhân là ứng cử viên Thượng viện và Hạ viện.

Lobby dầu khí: Sức mạnh chỉ sau lobby công nghiệp quốc phòng. Sau cuộc khủng hoảng vùng Vịnh năm 1990, lobby dầu khí vận động nhà nước có chính sách bao cấp để gia tăng sản xuất dầu khí trong nước nhằm giảm thiểu sự lệ thuộc vào dầu khí nhập khẩu từ Trung Đông.

Lobby phục vụ nước ngoài: Những người làm lobby phục vụ quyền lợi của chính phủ nước ngoài phải đăng ký hoạt động với nhà nước Mỹ và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Công việc của họ trên hai phương diện: Cố vấn cho chính phủ nước ngoài về chủ trương, chính sách và xu thế của nhà nước Mỹ đối với các vấn đề liên quan đến hai nước; vận động để Quốc hội và Tổng thống Mỹ theo đường lối hợp với nguyện vọng của chính phủ nước ngoài mà người làm lobby phục vụ. Trong lịch sử và hiện tại, rất nhiều chính phủ là khách hàng của các lobby Mỹ như Trung Quốc, Đài Loan, Thổ Nhĩ Kỳ, ăng-gô-la, Nhật Bản, Hàn Quốc.

Ngày 19/12/1995, Tổng thống Mỹ đã ký ban hành đạo luật về công khai hoá hoạt động lobby (Lobbying Disclosure Act of 1995) điều chỉnh các mối quan hệ trong hoạt động lobby cả trong và ngoài nước Mỹ và quy định: “bắt buộc những người hoạt động lobby phải đăng ký, phải công khai hoá các khách hàng, các tiếp xúc, công khai hoá các vấn đề lobby và số tiền công được chi trả ”. Luật này đã có những quy định hạn chế cho những người làm lobby. Chẳng hạn, luật cấm các thượng nghị sỹ và nhân viên văn phòng thượng viện không được nhận quà hoặc chiêu đãi đáng giá trên 100 đô la mỗi người mỗi năm, cấm không được tham dự những chuyến đi giải trí do tư nhân đài thọ. Tuy nhiên, thể lệ về quà cáp và chiêu đãi cũng có tới 24 trường hợp ngoại lệ. Luật mới cũng buộc những người làm lobby mỗi năm phải báo cáo với nhà nước hai lần về số tiền họ nhận của các công ty, nhận để làm gì và thân chủ của họ là ai; và quy định rằng, bất cứ ai được trả tiền để vận động các nhà lập pháp và các quan chức chính phủ đều được coi là người làm lobby, nếu người ấy dùng ít nhất 20% thì giờ của mình để đại diện cho thân chủ trong mỗi thời gian sáu tháng. Luật cũng yêu cầu, cả những lobby không chuyên nghiệp và những người chỉ vận động với công nhân viên cấp dưới của Quốc hội hay nhà nước cũng phải đăng ký, nếu vi phạm có thể bị phạt tới 5 vạn đôla.

Như vậy, trên thực tế, lobby ở Mỹ đã và đang là một tồn tại mang tính chính trị – pháp lý – xã hội, có tác động mạnh mẽ đến Quốc hội và chính phủ Mỹ trong tất cả các công đoạn của quá trình xây dựng pháp luật và hình thành chính sách đối nội, đối ngoại, “đồng thời cũng góp phần làm suy yếu các đảng phái chính trị”[1]. Trong mối quan hệ với Quốc hội và Chính phủ, lobby Mỹ đồng thời là sự phản ánh, giám sát, kiềm chế, đối trọng của các nhóm lợi ích và nhân dân Mỹ đối với các cơ quan công quyền. Lobby không phải là một ngành quyền pháp lý mà mang tính chất xã hội nhưng về bản chất, nó là sự chia sẻ quyền lực giữa nhà nước và xã hội. Sự thừa nhận về mặt pháp lý của lobby cũng là sự minh hoạ cụ thể về tính đại diện của Quốc hội Hoa Kỳ.

Chính vì lợi ích do lobby mang lại là cực kỳ to lớn nên hiện nay, ngoài các tập đoàn tư bản Mỹ, một số tổ chức phi chính phủ cũng đang có hoạt động lobby và đáng chú ý là một số tổ chức phản động trong cộng đồng người Việt ở Mỹ cũng có những hoạt động mang tính lobby để tác động vào các chính sách không có lợi cho Việt Nam từ Quốc hội Mỹ. Chẳng hạn tìm cách ngăn cản quá trình bình thường hoá quan hệ giữa hai nước, thông qua đạo luật về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam, hay đạo luật về chống bán phá giá cá basa Tuy nhiên, cũng có những lobby đại diện của một số công ty Mỹ đã vận động Quốc hội và Tổng thống Mỹ bỏ cấm vận kinh tế đối với Cu Ba, thúc đẩy ký hiệp định thương mại với Việt Nam.

Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II đến nay, các hoạt động lobby nhằm thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệ mậu dịch, tranh thủ đầu tư, viện trợ ở Mỹ của một số nước đã trở thành đề tài thời sự. Các cơ quan lập pháp và hành pháp Mỹ chấp nhận hoạt động này, còn các chính phủ hay các công ty, doanh nghiệp nước ngoài thì coi đây là một hoạt động tất yếu khi quan hệ với Mỹ, muốn gặt hái lợi ích từ chính quyền Mỹ, từ thị trường và từ xã hội Mỹ.

“Ở khu vực Đông Nam á, theo thông tin từ Bộ Tư pháp Mỹ cho biết, cho đến năm 2004, chỉ có Việt Nam và Lào là không có chi phí cho hoạt động lobby, còn các quốc gia và vùng lãnh thổ như Cam-pu-chia, Hồng Kông, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, My-an-ma, Sing-ga-po, Thái Lan, Phi-lip-pin đều có các khoản chi phí từ vài chục nghìn đến hàng triệu đôla cho hoạt động lobby ở Mỹ”. Mục tiêu lobby của các quốc gia này là vận động để Mỹ ủng hộ trong các mối quan hệ chính trị, thương mại quốc tế, nhất là thuế quan, hàng xuất khẩu vào Mỹ được hưởng quy chế “tối huệ quốc”, để Mỹ tách vấn đề nhân quyền theo giá trị của Mỹ ra khỏi vấn đề quan hệ kinh tế, thương mại, vấn đề mua vũ khí và kỹ thuật cao của Mỹ Bên cạnh những hoạt động lobby của chính phủ, các tập đoàn kinh tế, thương mại của các nước này cũng chi những khoản không nhỏ (có thể gấp hàng chục, hàng trăm lần chính phủ) cho các hoạt động lobby phục vụ lợi ích của chính các tập đoàn, các công ty đó ở Mỹ.

Source: www.thanhtra.gov.vn

Đăng bởi: quiet_volcano | Tháng Bảy 22, 2009

Chủ nghĩa tư bản thân hữu

Sự liên kết giữa các doanh nghiệp tư nhân với các quan chức nhà nước là một rủi ro rất lớn của quá trình chuyển đổi. Như một định mệnh nó là loại rủi ro dễ nhận thức, nhưng khó vượt qua.

Ở nước ta, các doanh nghiệp tư nhân đang đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong sự phát triển của đất nước. Vai trò này đã được cả xã hội ghi nhận. Trong bối cảnh như vậy, và nhân ngày doanh nhân Việt Nam (13/10) lại nói về sự liên kết của các doanh nghiệp tư nhân với các quan chức nhà nước thật chẳng khác gì cái việc “thổi tù và” trong dàn hợp xướng nhạc giao hưởng vậy.

Tuy nhiên, chuyện “thổi tù và ngược” nhiều khi chướng tai, nhưng không phải hoàn toàn vô ích. Nếu sự liên kết nói trên, còn được gọi là chủ nghĩa tư bản thân hữu (trong tiếng Anh là crony capitalism),có thể làm cho quyền lực kinh tế và quyền lực chính trị gắn kết với nhau hình thành nên một thứ mafia toàn năng thì rủi ri cho đất nước là khôn lường. Trong sự liên kết này, nhiều hợp đồng béo bở, nhiều nguồn lực quan trọng sẽ bị các quan chức tìm cách chuyển cho các công ty tư nhân quen biết. Đến lượt mình, các công ty này sẽ lại quả và cung phụng chu đáo cho các quan chức. So với các công ty của nhà nước, các công ty tư nhân có thể làm điều này một cách dễ dàng hơn và “hợp pháp” hơn. Lý lẽ thường được đưa ra là: “Tiền của tôi, tôi muốn cho ai là quyền của tôi”.

Chủ nghĩa tư bản thân hữu còn được dùng để chỉ tình trạng bố làm chính trị, còn con cái thì làm kinh tế. Gia đình giàu có lên nhanh chóng nhờ “tài kinh doanh” của những người con. Tuy nhiên, đằng sau cái “tài kinh doanh” đó bao giờ cũng thấp thoáng hình bóng của ông bố. Vị trí lãnh đạo của ông bố đã đưa lại những hợp đồng giá trị, những mối quan hệ làm ăn dễ dàng cho những người con. Chẳng mấy chốc những người con đã có thể thâu tóm hầu hết những ngành kinh tế quan trọng của đất nước.

Đất nước Indonesia dưới thời của Tổng thống Xuhactô đã từng phải đối mặt với chủ nghĩa tư bản thân hữu với những biểu hiện đặc trưng nhất. Tất cả các ngành kinh tế mũi nhọn như xuất nhập khẩu, xây dựng, ngân hàng, tài chính đều do những người con của ông Xuhactô nắm giữ. Đất nước Indonesia đã phải trả giá cho điều này bằng bạo loạn và mất ổn định về kinh tế và chính trị – xã hội như thế nào là điều tất cả chúng ta đều biết. Nước Nga dưới thời của Tổng thống Enxin là một ví dụ nhãn tiền khác. Tất cả các ngành kinh tế quan trọng của đất nước như dầu lửa, ngân hàng v.v. đã lọt vào tay những người thân quen hoặc có quan hệ “người nhà” với gia đình của Tổng thống.

Ở Việt Nam ta bao nhiêu công ty tư nhân đã phất lên nhờ sự đỡ đầu trực tiếp của các quan chức nhà nước? Có lẽ chưa nhiều. Ít nhất thì chưa đến mức mà dư luận xã hội bị đánh động. Tuy nhiên, những mối quan hệ thân thiết thì đã bắt đầu hình thành. Và không ít hợp đồng cũng đã được chuyển cho các công ty tư nhân theo sự thân quen.

Chúng ta ủng hộ sự phát triển lành mạnh của các công ty tư nhân. Nhưng đó phải là sự phát triển theo đúng quy luật cạnh tranh của thị trường chứ không phải theo mô hình của chủ nghĩa tư bản thân hữu. Ngày Doanh nhân Việt Nam là dịp để chúng ta thổi lên tiếng tù và báo động về hiểm hoạ của chủ nghĩa tư bản thân hữu đối với đất nước ta.

TS. Nguyễn Sĩ Dũng

Source: vietnamnet.vn

Đăng bởi: quiet_volcano | Tháng Bảy 21, 2009

Nhóm lợi ích trong kinh tế thị trường

I. Độc quyền và đa ngành

Hoạt động kinh tế gắn với lợi ích ở nhiều cấp độ: lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm và lợi ích dân tộc. Nhóm lợi ích được hình thành từ tập hợp những cá nhân và tổ chức có lợi ích tương đồng trong từng lĩnh vực, ngành kinh tế, địa bàn hoạt động. Trong trường hợp lợi ích nhóm hài hòa với lợi ích dân tộc thì nhóm lợi ích có tác động tích cực đến việc thúc đẩy tăng trưởng và hiệu quả kinh tế. Ngược lại, bằng nhiều thủ đoạn từ vận động, thuyết phục, gây sức ép về chính trị, viện cớ bảo vệ lợi ích dân tộc, cho đến mua chuộc bằng tiền bạc …, nhóm lợi ích tìm cách bảo vệ lợi ích của mình bất chấp hiệu quả kinh tế – xã hội của quá trình phát triển.

Trong những năm gần đây, ở nước ta đã nổi lên nhiều vấn đề trong nền kinh tế như tình trạng thiếu điện năng, các tập đoàn đua nhau mở rộng phạm vi hoạt động ở nhiều ngành nghề, các doanh nghiệp gây áp lực với chính phủ để kéo dài bảo hộ mậu dịch; một số địa phương “phá rào”, ban hành nhiều chủ trương vi phạm luật pháp của nhà nước, trái thẩm quyền; một số Bộ sử dụng quyền và thế của mình vượt quá quy định của nhà nước. Những vấn đề đó có liên quan đến hoạt động của các nhóm lợi ích, đang làm tổn hại nghiêm trọng đến lợi ích dân tộc.

Vì sao để xảy ra tình trạng thiếu điện và ai chịu trách nhiệm trước nhân dân về tình trạng đó (?). Điện năng là một loại hàng hóa, nhưng là nguồn năng lượng cho sự phát triển kinh tế; Đảng ta đã nhiều lần nhấn mạnh “điện lực phải đi trước một bước”. Đã từ lâu, việc tổ chức và quản lý ngành điện nước ta theo hướng độc quyền, không cạnh tranh và hiện tại cũng chưa có tín hiệu phá vỡ tình trạng đó, nên ngành điện là điển hình của nhóm lợi ích đang chi phối đáng kể tình hình đầu tư, sản xuất và kinh doanh trên thị trường.

Ngày 3/9/1997, Chính phủ đã phê duyệt Tổng sơ đồ giai đoạn 1996 -2000 có xét triển vọng đến 2010, với mục tiêu đến năm 2010 nước ta sẽ có tổng công suất 19.000 MW, công suất tăng thêm là 1.5260 MW; cho đến tháng 7 năm nay, gần 12 năm chỉ tăng thêm được 8.000 MW (!), đạt hơn 60% mục tiêu, bởi vì nhiều dự án điện đã bị chậm trễ (Vietnamnet 7/7/2007).

Nhằm giải quyết tình trạng thiếu điện, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đề nghị Chính phủ tăng giá điện để có thêm vốn đầu tư và tiết kiệm điện; giải pháp sau đã được nhân dân và doanh nghiệp đồng tình đang thực hiện; nhưng giải pháp trước không có tính thuyết phục, bởi vì ngành điện còn khá nhiều dư địa để giảm giá thành, đất nước cần ổn định giá điện để không gây tác động giây chuyền đến giá cả các sản phẩm khác. Hơn nữa, EVN đang sử dụng một lượng vốn khá lớn để đầu tư vào các lĩnh vực ngoài điện năng như xây dựng khách sạn, mà lẽ ra nên tập trung vào các dự án điện.

Tình trạng chậm trễ trong việc xây dựng các nhà máy điện đang gặp phải trở ngại lớn gắn với tư thế độc quyền của EVN. Tập đoàn này đề nghị Chính phủ không khuyến khích nhà đầu tư nước ngoài xây dựng nhà máy điện theo hình thức BOT ( Đầu tư, 13/6/2007); trong khi theo thông lệ quốc tế, BOT là phương thức thích hợp nhất cho đầu tư trong ngành điện. Chính vì sự chi phối lợi ích nhóm nên đã có một số dự án BOT không được triển khai; điển hình là năm 1998 một tập đoàn điện lực lớn của Mỹ đã được Thủ tướng Chính phủ đồng ý xây dựng dự án nhiệt điện 600 MW theo BOT; nhưng do ngành than thì đòi họ phải mua giá than cao hơn giá thị trường lúc đó, còn EVN thì chỉ cam kết mua điện với giá khá thấp, cuối cùng không thực hiện được.

Hiện nay, các dự án điện năng lớn hàng tỷ USD đang được nhiều nhà đầu tư nước ngoài đầy tiềm năng mong muốn thực hiện đồng loạt, do vậy để chủ trương của Chính phủ gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn mức đã đạt được của năm nay, có thể là hai con số trong thập niên thứ hai của thiên niên kỷ này trở thành hiện thực, thì bài toán điện năng gần như đã có đáp số: phá vỡ tình trạng độc quyền, đặt EVN trở lại đúng vị thế là một doanh nghiệp kinh doanh điện; không được quyền quyết định về việc phát triển nguồn điện cũng như thị trường tiêu thụ điện. Chính phủ định hướng phát triển ngành điện, khuyến khích mạnh mẽ đầu tư trong nước và nước ngoài bằng những chính sách ưu đãi đặc biệt; quyết định khung giá đầu vào và đầu ra cho các dự án BOT và các hình thức đầu tư khác vào điện năng để hướng dẫn các nhà đầu tư, mà EVN cũng là một chủ thể bình đẳng với các đối tác khác.

Trên tờ Thời báo kinh tế Việt Nam ngày 4/12/2007 đưa tin hai sự kiện có liên quan đến PetroViệt Nam đáng được lưu ý: Ngày 3/12/2007 Tập đoàn này đã công bố kết quả cuộc thi kiến trúc và dự kiến sẽ xây dựng Tổ hợp khách sạn 5 sao và căn hộ lớn nhất Hà Nội với vốn đầu tư trên 500 triệu USD; Dự án nhà máy lọc dầu số 1 ở Dung Quất được đánh giá là chậm thêm 6 tháng so với dự kiến gần nhất ( nếu so với ý đồ ban đầu của Chính phủ thì chậm gần 10 năm)(!). Hai sự kiện đó là điển hình của tình trạng phổ biến của nhiều Tập đoàn kinh tế nhà nước; trong khi các công trình trọng điểm đúng chức năng thì chậm trễ kéo dài, nhưng các tập đoàn lại sẵn sàng chi hàng trăm triệu USD đầu tư vào nhiều dự án trong các lĩnh vực khác.

Tập đoàn Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam (Vinashin) sau khi được Chính phủ phân bổ 750 triệu USD trái phiếu quốc tế, đã đầu tư đồng thời nhiều dự án lớn cả trong công nghiệp đóng tàu và vào các ngành khác. Không ít chuyên gia lo ngại rằng, chúng ta có quá ít thời gian để đánh giá kỹ hiệu quả kinh tế của các dự án đó. Giáo sư David Dapice, môt chuyên gia kinh tế người Mỹ đã có mặt tại Việt Nam từ khi bắt đầu đổi mới, rất am hiểu tình hình kinh tế nước ta đã đưa ra một cảnh báo với Vinashin rằng, trong khi một xưởng đóng tàu hiện đại 120 nghìn tấn đang được xây dựng ở Ấn Độ với vốn đầu tư 90 triệu USD, thì Vinashin cần đến 150 triệu USD (Tienphong Online, 19/6/2006 ).

Tập đoàn than và khoáng sản cũng không phải là ngoại lệ. Ngày 29/1/2003, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch khai thác than đến năm 2010 là 22 -24 triệu tấn và 2020 là 29 -30 triệu tấn; dựa trên đánh giá trử lượng than của nước ta không nhiều, cần phải bảo đảm cung ứng nhu cầu đang gia tăng trong nước, chỉ dành phần nhỏ để xuất khẩu. Trong khi đó, năm 2007 sản lượng khai thác than là 40 triệu tấn, gần gấp đôi con số quy hoạch của năm 2010; trong đó hơn một nửa là xuất khẩu, cho dù có kim ngạch khoảng 800 triệu USD, nhưng đất nước cũng phải bỏ ra lượng ngoại tệ khá lớn để nhập điện. Điều đáng mừng là gần đây Chính phủ đã có chủ trương hạn chế và giảm xuất khẩu than.

Đảng và Nhà nước thì muốn doanh nghiệp của mình đóng vai trò chủ đạo trong từng ngành kinh tế; việc hình thành các Tập đoàn cũng hướng vào mục tiêu đó, mặc dù hiện đang có những băn khoăn chính đáng về tính đúng đắn của chủ trương này; tuy vậy điều đáng tiếc là một số Chủ tịch và Tổng giám đốc các Tập đoàn chưa thực sự quan tâm đến việc xây dựng Chiến lược kinh doanh phù hợp với sự phát triển của thị trường trong nước và thị trường quốc tế của ngành và lĩnh vực kinh doanh chính của họ, mà rất thích đầu tư vào nhiều ngành và lĩnh vực kể cả ngân hàng, bảo hiểm trong khi vốn và nguồn nhân lực thì có hạn, lại chưa có tầm nhìn trung hạn và dài hạn.

Đã đến lúc các vị lãnh đạo tập đoàn cần lưu ý đến các số liệu điều tra hàng năm của Tổng cục thống kê về tình hình hoạt động của doanh nghiệp được in thành những tập sách dày nhiều trăm trang và tài liệu của Kiểm toán nhà nước công bố để thấy hết tình trạng đáng báo động về hiệu quả kinh tế của không ít doanh nghiệp nhà nước.

II. Làm gì để hạn chế tiêu cực của nhóm lợi ích

Người dân Việt Nam đang chịu đựng một nghịch lý, thu nhập còn thấp nhưng giá ô tô thì thuộc loại cao nhất thế giới (!). Những nhà hoạch định chính sách cần phải suy nghĩ một cách nghiêm túc về nghịch lý đó; chứ không phải chỉ bằng một vài giải pháp như giảm thuế nhập khẩu và gây sức ép với nhà sản xuất như Bộ Tài chính đã thực hiện. Là một nước công nghiệp hóa sau, nước ta cần học hỏi kinh nghiệm thành công của nhiều nền kinh tế mới ở châu Á như Hàn Quốc, Đài Loan; mở cửa thị trường, hội nhập quốc tế chứ không phải là kéo dài chính sách bảo hộ mậu dịch để gia tăng tỷ lệ nội địa hóa trong điều kiện mỗi nhà sản xuất chỉ có sản lượng tính từng trăm, hoặc nghìn ô tô/năm. Trong điều kiện toàn cầu hóa, Việt Nam cần coi trọng việc tham gia hệ thống sản xuất quốc tế, đầu tư tới hạn vào sản xuất linh kiện sản phẩm để đạt đến quy mô đủ lớn, cung ứng cho các nhà sản xuất thế giới; khi thị trường đã có dung lượng đủ lớn thì tự khắc sẽ chuyển sang sản xuất sản phẩm cuối cùng trong chuỗi giá trị.

Làm thế nào để nhóm lợi ích không thể chi phối, gây tác động tiêu cực đến lợi ích dân tộc (?).

1) Trước hết và quan trọng nhất là chính sách và luật pháp nhà nước phải được hình thành trên cơ sở lợi ích dân tộc, không để các nhóm lợi ích chi phối trong quá trình xây dựng, thông qua và thực hiện. Trong đó cần đặc biệt lưu ý đến chính sách và luật pháp chuyên ngành là mảnh đất mà các nhóm lợi ích quan tâm nhiều nhất, bởi vì trực tiếp tác động đến mọi hoạt động của họ. Các doanh nghiệp được quyền và được tạo điều kiện tham gia quá trình hình thành chính sách và luật pháp, nhưng việc quyết định phải do Nhà nước, để bảo đảm tính khách quan thông qua cơ chế và quá trình thực hiện vì lợi ích chung.

2) Cho đến nay, quy hoạch phát triển từng ngành được giao cho các tập đoàn hay tổng công ty nhà nước xây dựng, sau đó trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt. Tình trạng đó đã tạo ra ưu thế cho các nhóm lợi ích khi họ được trao quyền quyết định sự phát triển từng ngành, lĩnh vực của cả quốc gia (!). Đó là di sản của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu mà sau hơn 20 năm nước ta đổi mới theo cơ chế thị trường vẫn còn được duy trì; trong khi các doanh nghiệp nhà nước khó có đủ tầm nhìn, năng lực và điều kiện để dự báo tình hình và lập quy hoạch phát triển cho cả nước. Thiết nghĩ, đã đến lúc phải trả lại việc quy hoạch ngành cho các cơ quan dự báo và các viện nghiên cứu thực hiện phù hợp với nguyên tắc thị trường và xu hướng hội nhập quốc tế. Tập đoàn, tổng công ty nhà nước trở lại đúng vị thế của họ, kinh doanh bình đẳng trên thị trường.

3) Kinh nghiệm của thế giới đã chỉ ra rằng, các tập đoàn lớn thường có xu hướng tạo ra tình trạng độc quyền bằng nhiều hình thức như thôn tính, sáp nhập, mua lại; đã có nhiều Chính phủ can thiệp bằng mệnh lệnh không cho phép một số trường hợp được thực hiện, để bảo đảm nguyên tắc cạnh tranh trên thị trường. Nhiều tập đoàn ở nước ta mới được hình thành, nhưng đã bắt đầu có những biểu hiện lợi dụng danh nghĩa đóng ” vai trò chủ đạo” để tạo thế độc quyền, sử dụng thương hiệu trong “liên kết”. Tình trạng đó cần được các cơ quan nhà nước lưu ý để có cơ chế thích ứng trong việc điều tiết thị trường, bảo đảm cạnh tranh, chống độc quyền trong mọi ngành và lĩnh vực hoạt động.

4) Các dự án được thực hiện bằng vốn ngân sách nhà nước cần được triển khai đúng với quy định pháp luật về đấu thầu, xét thầu và cấp vốn đầu tư bảo đảm tính công khai và minh bạch; không thiên vị dành ưu tiên cho doanh nghiệp nhà nước; cũng như cần có cơ chế để có thể thực hiện việc giám sát của các cơ quan thanh tra và nhân dân. Trong việc thực hiện cam kết WTO thì chi tiêu chính phủ là một vấn đề đã được nước ta cam kết; do vậy cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành để phù hợp với thông lệ quốc tế, cũng nhằm bảo đảm tiết kiệm và hiệu quả cho đất nước.

Nhóm lợi ích hình thành một cách khách quan; nền kinh tế càng phát triển thì hoạt động các nhóm lợi ích càng trở nên mạnh mẽ vì họ có đủ vị thế, phương tiện vật chất, kênh quan hệ để thực hiện mục tiêu. Các cơ quan nhà nước cần và có thể thông qua cơ chế, chính sách, luật pháp bảo đảm lợi ích nhóm chính đáng; đồng thời hướng vào phục vụ lợi ích dân tộc; không để nhóm lợi ích chi phối trong quá trình ra quyết định, gây thiệt hại cho lợi ích chung.

GS – TSKH Nguyễn Mại

Source: www.vir.com.vn

Đăng bởi: quiet_volcano | Tháng Bảy 20, 2009

Tư hữu hóa theo cách Nga và bài học cho chúng ta

Gần đây nói tới việc đẩy nhanh quá trình tư nhân hóa, giảm tỉ trọng cổ phần của nhà nước trong các doanh nghiệp cổ phần. Vì vậy việc tìm hiểu kinh nghiệm tư hữu hóa (THH) của nước Nga là một việc hết sức cần thiết và có ý nghĩa thiết thực.

Trước hết, cần phải nói ngay, THH và cổ phần hóa là hai khái niệm khác nhau. Cổ phần hóa là quá trình chuyển đổi cơ cấu quản trị: từ doanh nghiệp nhà nước sang doanh nghiệp cổ phần. Còn THH là quá trình chuyển đổi sở hữu: từ sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể sang sở hữu tư nhân. Như vậy, cổ phần hóa và THH sẽ có điểm gặp nhau khi quá trình thay đổi cơ cấu quản trị làm chuyển đổi cơ cấu sở hữu từ nhà nước sang tư nhân. Hiện nay, quá trình tư nhân hóa ở nước ta chưa diễn ra mạnh mẽ, nhưng đây sẽ là một làn sóng tất yếu trong tương lai không xa. Vì không cần chứng minh thì ai cũng biết sở hữu tư nhân là động lực cơ bản để phát triển kinh tế thị trường.

Tư hữu hóa ở Nga
Nhận thức rõ điều này, Chính phủ Nga ngay trong giai đoạn đầu cải cách 1990-1994 đã xem THH là một trong 4 nhiệm vụ cơ bản. Tuy nhiên, ngay từ đầu công cuộc THH ở Nga đã gây nhiều tranh cãi. Các nhà cải cách đứng trước hai lựa chọn. Một, sẽ tiến hành THH từ từ, từng bước, trao tài sản vào tay chủ sở hữu mới, thực sự sử dụng tài sản hiệu quả, với giá cao nhất có thể. Hai, tiến hành THH “chớp nhoáng”, nhanh chóng, phân phát không tài sản quốc hữu cho toàn dân. Dĩ nhiên, ai cũng hiểu cách làm thứ nhất sẽ mang lại cho quốc gia nhiều lợi ích hơn, nhưng nó lại đòi hỏi thời gian và một hệ thống chính trị ổn định. Cả hai thứ mà vào thời điểm đó (1990-1991) nước Nga non trẻ đều không có. Dưới nhiều áp lực về kinh tế, chính trị, thậm chí không ngoại trừ động cơ cá nhân và tác động mạnh mẽ của phương Tây, các nhà cải cách trẻ ở Nga đã quyết định lựa chọn phương án hai.

Kết quả là từ năm 1992-1994 trên toàn Nga đã có 125.514 doanh nghiệp nhà nước đăng ký THH, trong đó đã thực hiện chuyển đổi sở hữu được 88.814 doanh nghiệp. Nhà nước thu về 760 tỷ rúp (tương đương – 3.7 tỷ USD với giá cuối năm 1992) – một con số quá ít ỏi so với giá trị thực của tổng tài sản đã đưa ra chào bán. Sở hữu của nhà nước được chia nhỏ cho một nhóm người, tạo nên một giới kinh tế thượng lưu bao gồm các nhà tài phiệt và các ông trùm kinh tế “đen”. Có thể nhận thấy rõ điều này khi phân tích dữ liệu về thu nhập và tích luỹ xã hội. Theo đó 5% dân số thuộc tầng lớp giàu và rất giàu chiếm 73% tích luỹ toàn xã hội và 80% ngoại tệ lưu hành dưới dạng tiền mặt. Chênh lệch trong thu nhập giữa tầng lớp giàu – nghèo có lúc lên đến hàng nghìn lần (1360 lần theo số liệu năm 1997). Việc hóa giá các tài sản quốc gia, cố tình tạo quá trình phá sản ảo để giảm giá thành các nhà máy, tổ hợp kinh tế nhà nước đã trở thành bước đi quen thuộc của quá trình THH. Ví dụ: Tập đoàn khí đốt lớn nhất thế giới ROS “Gazprom” được định giá khoảng 300 tỷ rúp (tương đương 12 tỷ USD, trong khi giá của công ty Mỹ tương đương “Chevron Corp.” là 123 tỷ); ngân hàng tín dụng “Sberbank”, với hàng nghìn chi nhánh trên khắp nước Nga được đánh giá bằng 230 triệu USD, trong khi chi phí ngân hàng này bỏ ra để xây dựng trụ sở chính tại đường 60 năm Cách mạng tháng 10, Matxcơva (chỉ là một trong hàng nghìn trụ sở) đã vượt quá con số 300 triệu USD (!!!).

Điều đáng lưu ý là quá trình THH đã đưa đến kết cục: toàn bộ số lợi tức từ sử dụng tài nguyên thiên nhiên của Nga tập trung trong tay các nhà tài phiệt, các tập đoàn tài chính thân Chính phủ hoặc các tổ chức kinh tế “đen” – lực lượng này chiếm khoảng 7-10% dân số đất nước.

Bài học cho Việt Nam
Tất nhiên, hoàn cảnh kinh tế, chính trị của nước ta hôm nay khác nhiều so với nước Nga vào những năm 1990. Nhưng không phải vì thế mà chúng ta không học hỏi được gì từ những kinh nghiệm xương máu trong quá trình THH của nước Nga xa xôi. Những bài học đó là gì?

THH chỉ là công cụ chứ không thể là mục đích. THH trên con đường phát triển kinh tế thị trường, tự do hóa thương mại và hội nhập quốc tế là công việc tất yếu cần làm. Nhưng THH chỉ là một trong số nhiều công cụ để chúng ta tìm và tạo cho được các chủ sở hữu làm việc hiệu quả vì lợi ích cộng đồng. Việc chúng ta quên đi nhiệm vụ chính của quá trình THH là tìm cho được chủ sở hữu có đủ năng lực sử dụng tài sản quốc gia hiệu quả nhất là một sai lầm nghiêm trọng.
Muốn THH thành công cần thiết lập được một cơ chế định giá tài sản minh bạch và công khai. Việc hàng nghìn doanh nghiệp nhà nước của Nga đã được định giá thấp hơn hàng chục lần so với giá trị thực khi đem ra đấu giá là một minh chứng hùng hồn. Điều này đặc biệt quan trọng đối với hoàn cảnh kinh tế nước ta hiện nay. Các bạn chắc còn nhớ kết quả xếp hạng về chỉ số minh bạch của thị trường bất động sản (REIT-2006) do LaSalle Investment Management/Jones Lang LaSalle công bố cách đây không lâu. Theo đó, Việt Nam được xếp vào hàng thấp nhất của khu vực châu Á- Thái Bình Dương, đạt 4.69 điểm – thuộc loại không minh bạch (hạng dưới cùng của bảng xếp hạng). Mà bất động sản chỉ là một lĩnh vực trong vô số các lĩnh vực “nhạy cảm” khác còn chưa có điều kiện và khả năng để xếp hạng như: đầu tư, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm…

Tích lũy tư bản và trách nhiệm đối với lợi ích cộng đồng. Nếu chính phủ không hình thành được một cơ chế kiểm soát hữu hiệu thì có thể dễ dàng hình thành lên một lớp chủ sở hữu tư nhân mới, giàu có nhưng chỉ biết lo cho túi tiền của mình và hoàn toàn vô trách nhiệm (nếu không nói là quay lưng lại) với sự phát triển của cộng đồng. Điều này đặc biệt rất dễ xảy ra nếu một lúc nào đó chúng ta quyết định THH các doanh nghiệp khai thác tài nguyên thiên nhiên. Lợi tức có được từ khai thác khoáng sản sẽ không quay lại phục vụ cộng đồng mà thông thường sẽ được chuyển ra nằm im tích lũy ở các ngân hàng nước ngoài.

Chỉ giao tài sản vào tay những người chủ hiểu, quí trọng và biết cách ứng xử với tài sản. Mơ ước sau một đêm sẽ hình thành hơn 40 triệu chủ sở hữu của A. Chubaiz đã không thể thành hiện thực, bởi một lý do hết sức đơn giản. Làm chủ cũng là một nghề, mà là một nghề không đơn giản. Muốn làm chủ hiệu quả thì ngoài rất nhiều yếu tố cần thiết khác, người chủ trước hết phải biết quí trọng và hiểu được giá trị tài sản mà mình đang sở hữu. Và quan trọng hơn chính anh ta phải bỏ sức lao động ra để có được tài sản đó.

Quan hệ giữa nhóm lợi ích, giới quan chức và người dân. THH là một quá trình phức tạp, liên quan đến những tài sản khổng lồ. Lợi ích càng nhiều, nhóm lợi ích càng đa dạng và phong phú. Kết quả THH sẽ biến dạng hoàn toàn nếu các nhóm lợi ích cá nhân này phối hợp chặt chẽ, cùng chia sẻ quyền lợi với giới quan chức tham nhũng. Tài sản quốc gia sẽ dễ dàng trao không một cách đàng hoàng vào tay chủ sở hữu mới bất chấp lợi ích cộng đồng. Quá trình THH ở Nga đã diễn ra gần như thế và kết quả thế nào thì các bạn đã thấy. Và đây cũng là điều mà chúng ta lo ngại nhất. Nền kinh tế thiếu minh bạch, tham nhũng không thể đẩy lùi, vận động hành lang trục lợi ngấm ngầm nhưng mạnh mẽ… đó là những dấu hiệu của một môi trường không thuận lợi chút nào cho quá trình THH.

Có thể thấy, quá trình THH ở nước ta hiện nay đang đi theo một lộ trình khác hẳn với nước Nga. Nhưng như thế không có nghĩa là chúng ta sẽ không gặp phải những vấn đề như người Nga đã từng gặp.

Nguyễn Văn Minh

Source: www.tiasang.com.vn

Đăng bởi: quiet_volcano | Tháng Bảy 3, 2009

List of Business Associations in Vietnam

1. Viet Nam Chamber of Commerce and Industry (VCCI)
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

Address: 9 Dao Duy Anh Street, Ha Noi
Tel: (+844) 3574 2022
Fax: (+844) 3574 2017
Email: webmaster@vcci.com.vn
Website: www.vcci.com.vn

2. Viet Nam Cooperative Alliance (VCA)
Liên minh Hợp tác xã Việt Nam

Address: 77 Nguyen Thai Hoc Street, Ba Dinh District, Ha Noi
Tel: (+844) 3843 1689
Fax: (+844) 3843 1883
Email: admin@vca.org.vn
Website: www.vca.org.vn

3. Viet Nam Leather and Footwear Association (LEFASO)
Hiệp hội Da – Giầy Việt Nam

Address: 160 Hoang Hoa Tham Street, Tay Ho District, Ha Noi
Tel: (+844) 3728 1560
Fax: (+844) 3728 1561
Email: hhdg@hn.vnn.vn
Website: www.lefaso.org.vn

4. Viet Nam Coffee and Cocoa Association (VICOFA)
Hiệp hội Cà Phê – Ca cao Việt Nam

Address: 5 Ong Ich Khiem, Ha Noi
Tel: (+844) 3733 6520, 3845 2818
Fax: (+844) 3733 7498
Email: vicofa@hn.vnn.vn, vicofa@hcm.vnn.vn
Website: www.vicofa.org.vn

5. Viet Nam Association of Seafood Exporters and Producers (VASEP)
Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt  Nam

Address: An Phu, District 2, Ho Chi Minh City
Tel: (+848) 6281 0430
Fax: (+848) 6281 0438
Email: vasep-org@hcm.vnn.vn, vasep@fpt.vn
Website: www.vasep.com.vn

6. Viet Nam Textile and Apparel Association (VITAS)
Hiệp hội Dệt – May Việt Nam

Address: 25 Ba Trieu Street, Hoan Kiem District, Ha Noi
Tel: (+844) 3934 9608
Fax: (+844) 3826 2269
Email: vitashn@hn.vnn.vn
Website: www.vietnamtextile.org

7. Viet Nam Timber and Forest Product Association (VIETFOREST)
Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam

Address: 10/14A, Trung Hoa, Cau Giay District, Ha Noi
Tel: (+844) 3783 3017
Fax: (+844) 3783 3016
Email: vifores@fpt.vn, infor@vietfores.org
Website: www.vietfores.org

8. Viet Nam Rubber Association (VRA)
Hiệp hội Cao su Việt Nam

Address: 236 Nam Ky Khoi Nghia Street, District 3, Ho Chi Minh City
Tel: (+848) 3932 2605
Fax: (+848) 3932 0372
Email: vra@vnn.vn
Website: www.vra.com.vn

9. Viet Nam Plastics Association (VPAS)
Hiệp hội Nhựa Việt Nam

Address: 180-182 Ly Chinh Thang Street, District 3, Ho Chi Minh City
Tel: (+848) 6290 5017
Fax: (+848) 6290 5021
Email: info@vpas.vn
Website: www.vpas.vn

10. Viet Nam Electronic Industries Association (VEIA)
Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam

Address: 11B Phan Huy Chu Street, Ha Noi
Tel: (+844) 3933 2845
Fax: (+844) 3933 2846
Email: veia-vn@hn.vnn.vn
Website: www.veia.org.vn

11. Viet Nam Association of Mechanical Industry (VAMI)
Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam

Address: 4 Trieu Quoc Dat Street, Ha Noi
Tel: (+844) 3936 8503
Fax: (+844) 3936 8504
Email: vphh@vami.com.vn
Website: www.vami.com.vn

12. Viet Nam Association for Anti-counterfeiting and Trademark Protection (VATAP)
Hiệp hội chống hàng giả và bảo vệ thương hiệu Việt Nam

Address: 91 Dinh Tien Hoang Street, Ha Noi
Tel: (+844) 3936 3289
Fax: (+844) 3936 3290
Email: support@hanghoavathuonghieu.com.vn
Website: www.hanghoavathuonghieu.com.vn

13. Viet Nam Standard and Consumer Association (VINASTAS)
Hội tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng  Việt  Nam

Address: 214/22 Ton That Tung, Ha Noi
Tel: (+844) 3852 7769
Fax: (+844) 3852 7769
Email: info@nguoitieudung.com.vn
Website: www.nguoitieudung.com.vn

14. Viet Nam Association of Rural Industrial Small and Medium Enterprises (VARISME)
Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành nghề nông thôn Việt  Nam

Address: 109 Truong Chinh Street, Ha Noi
Tel: (+844) 3868 8908
Fax: (+844) 3868 8908
Email: vn_varisme@vnn.vn
Website: www.varisme.org.vn

15. Viet Nam Tea Association (VITAS)
Hiệp hội chè Việt Nam

Address: 92 Vo Thi Sau, Ha Noi
Tel: (+844) 3625 0908
Fax: (+844) 3625 1801
Email: vitas@fpt.vn
Website: www.vitas.org.vn

16. Handicraft And Wood Industry Association (HAWA)
Hiệp hội Ch̀ế biến gỗ và Thủ công mỹ nghệ TP. Hồ Chí Minh

Address: 81-83 Nguyen Cong Tru Street, District 1, Ho Chi Minh City
Tel: (+848) 3914 3770
Fax: (+848) 3404 2465
Email: hawa@hcm.fpt.vn
Website: www.hawa.com.vn

17. Viet Nam Silk Association
Hiệp hội Lụa Việt Nam
Address: 18B Quang Trung, Bao Loc Town, Lam Dong Province
Tel: (+8463) 386 3310
Fax: (+8463) 371 7145

18. Viet Nam Fruit Association (VINAFRUIT)
Hiệp hội rau quả Việt Nam

Address: 58 Nguyen Binh Khiem Street, Distrist 1, Ho Chi Minh City
Tel: (+848) 3829 6098
Fax: (+848) 382 96098
Email: vinafruit@hcm.vnn.vn
Website: www.vinafruit.com

19. Viet Nam Steel Association (VSA)
Hiệp hội Thép  Việt Nam

Address: 7th Floor, 91 Lang Ha Street, Ha Noi
Điện thoại: (+844) 3514 6230
Fax: (+844) 3514 5113
Email: hiephoithepvn@hn.vnn.vn
Website: www.vsa.com.vn

20. Viet Nam Pulp and Paper Association (VPPA)
Hiệp hội  Giấy và Bột giấy  Việt  Nam

Address: 18C Pham Dinh Ho Street, Ha Noi
Tel: (+844) 3821 0455
Fax: (+844) 3971 8684
Email: vietnampaper@hn.vnn.vn
Website: www.vppa.vn

21. Viet Nam National Cement Association (VNCA)
Hiệp hội Xi măng Việt Nam

Address: 37 Le Dai Hanh, Hai Ba Trung District, Ha Noi
Tel: (+844) 3974 0917
Fax: (+844) 3974 0918
Email: cemass@fpt.vn
Website: www.vnca.org.vn

22. Vietnam Food Association (VFA)
Hiệp hội Lương thực  Việt Nam

Address: 210 Nguyen Thi Minh Khai Street, District 3, Ho Chi Minh City
Tel: (+848) 3930 2614
Fax: (+848) 3930 2704
Email: vietfood@hcm.vnn.vn
Website: www.vietfood.org.vn

23. Vietnam Cashew Association (VINACAS)
Hiệp hội Điều Việt Nam

Address: 135 Pasteur Street, District 3, Ho Chi Minh City
Tel: (+848) 3824 2136
Fax: (+848) 3824 2138
Email: info@vinacas.com.vn
Website: www.vinacas.com.vn

24. Viet Nam Sugar Association
Hiệp hội Đường Việt Nam

Address: 1B Ngoc Ha Street, Ha Noi
Tel: (+844) 3733 9896
Fax: (+844) 3733 9896

25. Viet Nam Pepper Association (VPA)
Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam

Address: 4th Floor, 135A Pasteur, District 3, Ho Chi Minh City
Tel: (+848) 3823 7288
Fax: (+848) 3822 3901
Email: hotieuvietnam@vnn.vn

26. Viet Nam Fertilizer Association (FAV)
Hiệp hội Phân bón  Việt Nam

Address: 37 Nguyen Khang, Cau Giay District, Ha Noi
Tel: (+844) 3784 7174
Fax: (+844) 37847164
Email: tht1@fpt.vn
Website: www.hth.com.vn

27. Viet Nam Mecatronics Association
Hiệp hội tự động hóa Việt  Nam

Address: 184 Thai Thinh Street, Dong Da District, Ha Noi
Tel: (+844) 3853 1681
Fax: (+844) 3853 0683
Email: tudonghoa@hn.vnn.vn

28. Viet Nam Bicycle and Motocycle Association (VBMA)
Hiệp hội Xe máy – Xe đạp Việt Nam

Address: 231 Ton Duc Thang Street, Ha Noi
Tel: (+844) 3851 2522
Fax: (+844) 3851 7617
Email: vbma@hn.vnn.vn

29. Viet Nam Building Ceramic Association (VIBCA)
Hiệp hội gốm sứ xây dựng Việt Nam

Address: Lane 235 Nguyen Trai Street, Thanh Xuan District, Ha Noi
Tel: (+844) 3858 4949
Fax: (+844) 3558 0824
Email: vibca@viettel.com.vn
Website: www.vnceramic.org.vn

30. Viet Nam Association of Liquor, Beer and Beverage
Hiệp hội Bia – Rượu – Nước giải khát Việt Nam

Address: 94 Lo Duc Street, Ha Noi
Tel: (+844) 3821 8433
Fax: (+844) 3821 8433
Email: hhbrvn@fpt.vn
Website: www.vba.com.vn

31. Viet Nam Pharmaceutical Companies Association (VNPCA)
Hiệp hội Doanh nghiệp dược Việt Nam

Address: 4th floor, Block B, 138B Giang Vo Street, Ba Dinh District, Ha Noi
Tel: (+844) 3846 5223
Fax: (+844) 3846 5224
Email: vnpca@fpt.vn
Website: www.vnpca.gov.vn

32. Viet Nam Banks Association (VNBA)
Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam

Address: 193 Ba Trieu Street, Ha Noi
Tel: (+844) 3821 8733
Fax: (+844) 3974 2309
Email: info@vnba.org.vn
Website: www.vnba.org.vn

33. Association of Vietnamese Insurers (AVI)
Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam

Address: 8th Floor, 141 Le Duan Street, Ha Noi
Tel: (+844) 3942 8106
Fax: (+844) 3942 2601
Email: hhbaohiem@hn.vnn.vn
Website: www.avi.org.vn

34. Viet Nam Association of Financial Investors (VAFI)
Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính Việt Nam

Address: Suite 1404, 17T4, Trung Hoa Nhan Chinh, Thanh Xuan District, Ha Noi
Tel: (+844) 3251 0985
Fax: (+844) 3251 0985
Email: office@vafi.org.vn
Website: www.vafi.org.vn

35. Viet Nam Association of Small and Medium Enterprises (VINASME)
Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Address: 12, Lot A, Tran Duy Hung Street, Ha Noi
Tel: (+844) 3556 4499
Email: admin@vinasme.com.vn
Website: www.vinasme.vn

36. Viet Nam Association of Craft Villages (VICRAFTS)
Hiệp hội làng nghề Việt Nam

Address: 14, Lane 2, Hoa Lu Street, Ha Noi
Tel: (+844) 3974 5347
Fax: (+844) 3974 5347
Email: nganhnghett@yahoo.com
Website: www.vicrafts.com, www.vietcraftb2b.com

37. Viet Nam E-Commerce Association (VECOM)
Hiệp hội Thương mại Điện tử Việt Nam

Address: Room 410, 25 Ngo Quyen Street, Ha Noi
Tel: (+844) 2220 5188
Fax: (+844) 2220 5188
Email: office@vecom.vn
Website: www.vecom.vn

38. Viet Nam Tourism Association (VITA)
Hiệp hội Du lịch Việt Nam

Address: 38 Yet Kieu Street, Ha Noi
Tel: (+844) 3942 7620
Fax: (+844) 3942 7621
Email: vtoa@hn.vnn.vn
Website: www.vita.vn

39. Viet Nam Association of Construction Contractors (VACC)
Hiệp hội các nhà thầu xây dưng Việt Nam

Address: Suite 706, A Building, Hacinco Village, Hong Lien Street, Thanh Xuan District, Ha Noi
Tel: (+844) 3558 9925
Fax: (+844) 3558 9924
Email: vacc@hn.vnn.vn

40. Viet Nam Association for Oil Essentials and Cosmetic Material
Hiệp hội tinh dầu và mỹ phẩm Việt Nam

Address: 64 Truong Dinh Street, District 3, Ho Chi Minh City
Tel: (+848) 3932 2247

41. Viet Nam Freight Forwarders Association (VIFFAS)
Hiệp hội giao nhận kho vận Việt Nam

Address: 8th Floor, 171 Vo Thi Sau Street, District 3, Ho Chi Minh City
Tel: (+848) 3932 2791
Fax: (+848) 3932 2791
Email: viffas-hcm@vnn.vn
Website: www.viffas.org.vn

42. Viet Nam Packaging Association (VINPAS)
Hiệp hội bao bì Việt Nam

Address: 159 Kinh Duong Vuong Street, District 6, Ho Chi Minh City
Tel: (+848) 3751 2561 (Ext 106)
Fax: (+848) 3751 2562
Email: hhbbvn@hcm.vnn.vn
Website: www.vinpas.vn

43. Viet Nam Seaports Association (VPA)
Hiệp hội Hải cảng Việt Nam

Address: 3 Nguyen Tat Thanh, District 4, Ho Chi Minh City
Tel: (+848) 3940 1030
Fax: (+848) 3940 0168
Email: vpa@hcm.vnn.vn
Website: www.vpa.org.vn

44. Viet Nam Real Estate Association (VNREA)
Hiệp hội Bất động sản Việt Nam

Address: Area D, Thang Long International Village, Cau Giay District, Ha Noi
Email: batdongsanvietnam@batdongsanvietnam.net.vn
Website: www.batdongsanvietnam.net.vn

45. Viet Nam Software Association (VINASA)
Hiệp hội Doanh nghiệp phần mềm Việt Nam

Address: 5th Floor, Center of Science – Technology & Vietnam Youth Talent, 7 Xa Dan Street, Dong Da District, Ha Noi
Tel: (+844) 3577 2336
Fax: (+844) 3577 2337
Email: vinasa01@hn.vnn.vn
Website: www.vinasa.org.vn

46. Viet Nam Ship Agents and Brokers Association (VISABA)
Hiệp hội Đại lý và Môi giới Hàng hải Việt Nam

Address: 62/5 Thach Thi Thanh, Tan Dinh Ward, District 1, Ho Chi Minh City
Tel: (+848) 3820 1392
Fax: (+848) 3820 6540
Email: visaba@vnn.vn
Website: www.visaba.org.vn

47. Viet Nam Shipowners’ Association

Address: 16th Floor, Ocean Park building, 1 Dao Duy Anh Street, Ha Noi
Tel: (+844) 3577 0825
Fax: (+844) 3577 0850

48. Viet Nam Association of Manpower Supply (VAMAS)
Hiệp hội xuất khẩu lao động Việt Nam

Address: 73 Nguyen Hong Street, Dong Da District, Ha Noi
Tel: (+844) 3776 3315
Fax: (+844) 3776 3312
Email: vamas@vnn.vn
Website: www.vamas.com.vn

49. Viet Nam Advertising Association (VAA)
Hiệp hội quảng cáo Việt Nam

Address: 6th floor, Savina Building, 1 Dinh Le Street, Ha Noi
Email: info@vaa.org.vn
Website: www.vaa.org.vn

50. Viet Nam Marketing Association (VMA)
Hiệp hội Marketing Việt Nam

Address: 6/1/7 Kim Dong Street, Hoang Mai District, Ha Noi
Tel: (+844) 3664 9668
Fax: (+844) 3664 9667
Email: info@marketingvietnam.org
Website: www.marketingvietnam.org

51. Viet Nam Lawyers Association (VLA)
Hội luật sư Việt Nam

Address: A2-261 Thuy Khue Street, Ha Noi
Tel: (+844) 8474830
Fax: (+844) 8474831
Email: vla@fpt.vn

Đăng bởi: quiet_volcano | Tháng Sáu 22, 2009

Hiệp hội ở đâu?

Theo thông lệ, giá gas trong nước chỉ tăng hoặc giảm vào đầu mỗi tháng khi giá hợp đồng (giá CP) được nhà cung cấp chính trên thị trường là Saudi Aramco chốt lại.

Căn cứ vào giá nhập khẩu này, các công ty trong nước tính toán và công bố giá một lần để ổn định thị trường, nhưng thông lệ này gần đây bị phá vỡ. Giá cả lên xuống thất thường.

Giá xăng dầu tăng làm cước vận chuyển tăng, trước đây chưa tăng đúng mức, hay giá thế giới dự kiến sẽ tăng… là những lý do được các doanh nghiệp đưa ra để giải thích cho việc tăng giá của mình. Nhưng dù giải thích thế nào thì vẫn là chuyện chạy đua vào cuộc tăng, giảm giá thay vì cải thiện dịch vụ để tăng sức cạnh tranh. Một doanh nghiệp trong ngành gas ví chuyện tăng giá này là “hành động ngang tàng” và rất cần sự can thiệp của Hiệp hội Gas VN, bởi theo ông, cái gì cũng phải có quy luật, trật tự và tôn trọng người tiêu dùng chứ không thể muốn tăng giảm tùy thích.

Thực tế có nhiều công ty đang mải chạy theo quyết định của một công ty. Không phủ nhận vai trò rất lớn của đơn vị kinh doanh có thị phần chi phối, nhưng trong lĩnh vực gas vẫn còn một số doanh nghiệp khác có bản lĩnh và chiến lược kinh doanh rõ ràng. Đã từng có công ty giảm giá đến 62.000đ/bình gas, dù đa số chỉ giảm 30.000đ, trong khi các công ty khác chạy đua với nhau về giá để tranh giành phần bánh giá rẻ thì công ty này vẫn “sống khỏe”.

Chúng ta còn có thể thấy câu chuyện tương tự ở nhiều sản phẩm xuất khẩu khác mà gần đây nhất là chuyện cá ba sa. Giá cá ba sa xuất khẩu liên tục bị nhà nhập khẩu ép, chính vì một số nhà xuất khẩu VN tự nguyện hạ giá để bán được hàng.

Ngay tại Hội chợ thủy sản VN (Vietfish) vừa diễn ra tại TP.HCM, nhiều doanh nghiệp chỉ biết than trời vì chứng kiến chuyện bán phá giá. Hay chủ một doanh nghiệp cà phê ở Đắc Lắc mới đây than hụt mất một hợp đồng vì có đơn vị khác chào giá thấp hơn, mà theo ông, mức giá đó là không thể. Rồi câu chuyện “ông nói gà bà nói vịt” trong ngành du lịch mới đây cho một chiến dịch “làm mới” hình ảnh du lịch VN, hay chuyện bơm tạp chất vào tôm dù chỉ là “con sâu làm rầu nồi canh” nhưng nó cũng cho thấy sự bất lực của các hiệp hội.

Qua các vụ kiện chống bán phá giá đối với hàng thủy sản, dệt may hay da giày mới thấy quyền lực của hiệp hội ngành nghề ở các nước mạnh đến cỡ nào. Trong một chuyến làm việc gần đây ở VN, lãnh đạo của Association pour le Développement de l’Exportation du Vin de Bordeaux (ADEB – Hiệp hội Phát triển xuất khẩu rượu vang Bordeaux,  Pháp) khẳng định những tiêu chuẩn về chất lượng được ADEB đóng dấu cho doanh nghiệp thành viên của mình có giá trị còn hơn cả luật pháp của nước này.

Doanh nghiệp nào không tuân thủ đúng luật chơi của hiệp hội thì đừng mơ đến chuyện bán hàng tại thị trường nội địa hay xuất khẩu. Ở Thái Lan, cũng chính nhờ vai trò điều phối nhuần nhuyễn và bài bản của hiệp hội mà ngành du lịch nước này phát triển chứ không phải của nhà nước.

Nhà nước không thể can thiệp vào “chuyện bếp núc” của doanh nghiệp mà chỉ có hiệp hội. Hiệp hội được lập ra để bảo vệ thành viên và đặt ra luật chơi với mục tiêu không gì khác hơn là bảo đảm sự công bằng, hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp và trách nhiệm đối với người tiêu dùng, với xã hội.

LÊ NGUYÊN MINH

Source: www.tuoitre.com.vn

Đăng bởi: quiet_volcano | Tháng Sáu 19, 2009

Làm chính sách ngày càng khó

Công luận, thông qua báo chí và đặc biệt là các đại biểu Quốc hội sắp được bầu, chính là nơi thúc đẩy việc hình thành chính sách có lợi nhất cho số đông thầm lặng mà nếu không, sẽ chẳng bao giờ hình thành được nhóm lợi ích có tiếng nói mạnh mẽ tác động đến chính sách kinh tế.

Ngày trước, cùng với quá trình chuyển từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường, việc xây dựng và thực hiện các chính sách kinh tế tương đối thuận lợi. Những gì tạo điều kiện cho thị trường hoạt động theo qui luật cung cầu dễ được chấp nhận và nhanh chóng đạt hiệu quả cao. Từ khoán nông nghiệp, cho nông dân bán nông sản trên thị trường tự do, đến việc thúc đẩy khu vực kinh tế dân doanh qua các bộ luật kinh doanh ngày càng thông thoáng, cởi mở – tất cả những chính sách này đã tạo sự khởi sắc cho nền kinh tế trong một thời gian ngắn.

Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay, các chính sách kinh tế không còn rạch ròi giữa cơ chế cũ và cơ chế mới như thế nữa; tác động của chính sách ngày nay khó đo lường hơn bởi sẽ có những người hưởng lợi từ chính sách mới và cũng có những người chịu thiệt thòi vì chúng. Chẳng lạ gì, việc hình thành chính sách mới khó khăn hơn; việc dự thảo chúng được tranh cãi nhiều hơn và việc thực hiện chúng đòi hỏi sự theo dõi, điều chỉnh ngày càng tinh tế hơn.

Xin lấy một vài ví dụ gần đây nhất. Quyết định giao quyền định giá xăng cho doanh nghiệp sẽ có lợi cho doanh nghiệp kinh doanh xăng, được chủ động hơn trong kinh doanh, không sợ lỗ và buộc các doanh nghiệp khác tiêu thụ xăng phải hạch toán đầy đủ chi phí, phải có biện pháp tiết kiệm xăng…

Ở hướng ngược lại, nhiều người lo ngại doanh nghiệp sẽ ép giá người tiêu dùng, giá cả sẽ biến động, người hưởng lương cố định sẽ gặp khó khăn hơn. Chí ít, như thừa nhận của Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển: “Bây giờ chúng ta để các doanh nghiệp quyết định giá thì giá miền núi đắt hơn miền xuôi. Cuộc sống là như thế, chúng ta hiện nay chưa cân bằng được, chưa xóa bỏ được chênh lệch giữa miền núi và miền xuôi, giữa thành thị và nông thôn”.

Những chủ trương đang được thí điểm hay dự thảo gây nhiều tranh luận có thể kể thêm chuyện cổ phần hóa bệnh viện và trường đại học. Cũng là theo định hướng thị trường, một khi ngân sách không thể bao quát hết mọi bệnh viện và trường học công thì đành phải “xã hội hóa” bằng cách cổ phần hóa, nhằm vừa nâng cao chất lượng điều trị hay giảng dạy, vừa dùng ngân sách tập trung lo cho các cơ sở công lập khác một cách đầy đủ hơn.

Nhưng có thật qui luật thị trường sẽ tỏ ra hiệu quả trong lĩnh vực này hay chính việc cổ phần hóa sẽ càng làm một số dịch vụ giáo dục, y tế xa dần tầm với của người dân nghèo, tạo ra những bất công mới trong xã hội?

Nhiều ví dụ như thế chứng tỏ chính sách kinh tế hiện nay không còn mang tính kinh tế thuần túy mà liên quan đến nhiều vấn đề xã hội khác. Đứng trước biết bao cân nhắc, đo lường tác động chính sách lên các nhóm lợi ích khác nhau, nhà hoạch định chính sách cần có bản lĩnh hơn bao giờ hết và tối hậu trong các ưu tiên cân nhắc phải luôn luôn là lợi ích của số đông, là sự bền vững của kết cấu xã hội, là sự công bằng tương đối cho càng nhiều người càng tốt, là sự bảo vệ môi trường sống và tương lai của con cháu chúng ta.

Mỗi chính sách khó lòng thỏa mãn hết tất cả các đối tượng chịu tác động, cho nên người hoạch định chính sách tiếp cận vấn đề từ càng nhiều góc độ chừng nào sẽ càng tìm ra nhiều giải pháp chừng đó. Tại sao không nghĩ xa hơn một chút, thay vì cổ phần hóa bệnh viện công, chúng ta có những chính sách khuyến khích sự ra đời của nhiều bệnh viện tư nhân bằng ưu đãi về cấp đất hay miễn thuế, biết đâu nhờ thế mục tiêu ban đầu của việc cổ phần hóa bệnh viện lại đạt được mà không gây xáo động lớn cho ngành y tế?

Ở đây, vai trò một xã hội dân sự với nhiều tiếng nói phản biện đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành chính sách sát với thực tế và đúng với lợi ích của số đông. Chỉ bằng cách khuyến khích nhiều tiếng nói đa dạng, nhiều nghiên cứu khách quan từ nhiều góc độ khác nhau, nhà hoạch định chính sách sẽ có thêm những thông tin mà nếu chỉ chủ quan cân nhắc trong nội bộ sẽ không có được.

Cho dù các ý kiến đóng góp không thể hiện trong chính sách, chúng cũng là những lưu ý sau này để khi triển khai chính sách, người thực hiện sẽ phải quan tâm. Cơ chế kiểm soát gián tiếp các công ty xăng dầu liên kết “làm giá” là một ví dụ. Trong vụ thép Việt – Ý gia công thép ở Trung Quốc đem về bán tại Việt Nam làm tốn khá nhiều giấy mực của báo chí trong thời gian qua, Bộ Thương mại đã có tiếng nói đúng đắn sau cùng.

Nhưng sự lên tiếng ban đầu của Hiệp hội Thép xem ra cũng cần thiết không kém, để nay thép Việt – Ý bán ra thị trường phải làm rõ thép nào sản xuất ở trong nước, thép nào gia công ở Trung Quốc. Nếu không có sự lên tiếng đó, người tiêu dùng có thể không biết và có thể nhầm lẫn.

NGUYỄN VẠN PHÚ

Source: Báo Tuổi Trẻ

Bài viết cũ hơn »

Chuyên mục