Đăng bởi: quiet_volcano | Tháng Bảy 3, 2009

List of Business Associations in Vietnam

1. Viet Nam Chamber of Commerce and Industry (VCCI)
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

Address: 9 Dao Duy Anh Street, Ha Noi
Tel: (+844) 3574 2022
Fax: (+844) 3574 2017
Email: webmaster@vcci.com.vn
Website: www.vcci.com.vn

2. Viet Nam Cooperative Alliance (VCA)
Liên minh Hợp tác xã Việt Nam

Address: 77 Nguyen Thai Hoc Street, Ba Dinh District, Ha Noi
Tel: (+844) 3843 1689
Fax: (+844) 3843 1883
Email: admin@vca.org.vn
Website: www.vca.org.vn

3. Viet Nam Leather and Footwear Association (LEFASO)
Hiệp hội Da – Giầy Việt Nam

Address: 160 Hoang Hoa Tham Street, Tay Ho District, Ha Noi
Tel: (+844) 3728 1560
Fax: (+844) 3728 1561
Email: hhdg@hn.vnn.vn
Website: www.lefaso.org.vn

4. Viet Nam Coffee and Cocoa Association (VICOFA)
Hiệp hội Cà Phê – Ca cao Việt Nam

Address: 5 Ong Ich Khiem, Ha Noi
Tel: (+844) 3733 6520, 3845 2818
Fax: (+844) 3733 7498
Email: vicofa@hn.vnn.vn, vicofa@hcm.vnn.vn
Website: www.vicofa.org.vn

5. Viet Nam Association of Seafood Exporters and Producers (VASEP)
Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt  Nam

Address: An Phu, District 2, Ho Chi Minh City
Tel: (+848) 6281 0430
Fax: (+848) 6281 0438
Email: vasep-org@hcm.vnn.vn, vasep@fpt.vn
Website: www.vasep.com.vn

6. Viet Nam Textile and Apparel Association (VITAS)
Hiệp hội Dệt – May Việt Nam

Address: 25 Ba Trieu Street, Hoan Kiem District, Ha Noi
Tel: (+844) 3934 9608
Fax: (+844) 3826 2269
Email: vitashn@hn.vnn.vn
Website: www.vietnamtextile.org

7. Viet Nam Timber and Forest Product Association (VIETFOREST)
Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam

Address: 10/14A, Trung Hoa, Cau Giay District, Ha Noi
Tel: (+844) 3783 3017
Fax: (+844) 3783 3016
Email: vifores@fpt.vn, infor@vietfores.org
Website: www.vietfores.org

8. Viet Nam Rubber Association (VRA)
Hiệp hội Cao su Việt Nam

Address: 236 Nam Ky Khoi Nghia Street, District 3, Ho Chi Minh City
Tel: (+848) 3932 2605
Fax: (+848) 3932 0372
Email: vra@vnn.vn
Website: www.vra.com.vn

9. Viet Nam Plastics Association (VPAS)
Hiệp hội Nhựa Việt Nam

Address: 180-182 Ly Chinh Thang Street, District 3, Ho Chi Minh City
Tel: (+848) 6290 5017
Fax: (+848) 6290 5021
Email: info@vpas.vn
Website: www.vpas.vn

10. Viet Nam Electronic Industries Association (VEIA)
Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam

Address: 11B Phan Huy Chu Street, Ha Noi
Tel: (+844) 3933 2845
Fax: (+844) 3933 2846
Email: veia-vn@hn.vnn.vn
Website: www.veia.org.vn

11. Viet Nam Association of Mechanical Industry (VAMI)
Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam

Address: 4 Trieu Quoc Dat Street, Ha Noi
Tel: (+844) 3936 8503
Fax: (+844) 3936 8504
Email: vphh@vami.com.vn
Website: www.vami.com.vn

12. Viet Nam Association for Anti-counterfeiting and Trademark Protection (VATAP)
Hiệp hội chống hàng giả và bảo vệ thương hiệu Việt Nam

Address: 91 Dinh Tien Hoang Street, Ha Noi
Tel: (+844) 3936 3289
Fax: (+844) 3936 3290
Email: support@hanghoavathuonghieu.com.vn
Website: www.hanghoavathuonghieu.com.vn

13. Viet Nam Standard and Consumer Association (VINASTAS)
Hội tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng  Việt  Nam

Address: 214/22 Ton That Tung, Ha Noi
Tel: (+844) 3852 7769
Fax: (+844) 3852 7769
Email: info@nguoitieudung.com.vn
Website: www.nguoitieudung.com.vn

14. Viet Nam Association of Rural Industrial Small and Medium Enterprises (VARISME)
Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành nghề nông thôn Việt  Nam

Address: 109 Truong Chinh Street, Ha Noi
Tel: (+844) 3868 8908
Fax: (+844) 3868 8908
Email: vn_varisme@vnn.vn
Website: www.varisme.org.vn

15. Viet Nam Tea Association (VITAS)
Hiệp hội chè Việt Nam

Address: 92 Vo Thi Sau, Ha Noi
Tel: (+844) 3625 0908
Fax: (+844) 3625 1801
Email: vitas@fpt.vn
Website: www.vitas.org.vn

16. Handicraft And Wood Industry Association (HAWA)
Hiệp hội Ch̀ế biến gỗ và Thủ công mỹ nghệ TP. Hồ Chí Minh

Address: 81-83 Nguyen Cong Tru Street, District 1, Ho Chi Minh City
Tel: (+848) 3914 3770
Fax: (+848) 3404 2465
Email: hawa@hcm.fpt.vn
Website: www.hawa.com.vn

17. Viet Nam Silk Association
Hiệp hội Lụa Việt Nam
Address: 18B Quang Trung, Bao Loc Town, Lam Dong Province
Tel: (+8463) 386 3310
Fax: (+8463) 371 7145

18. Viet Nam Fruit Association (VINAFRUIT)
Hiệp hội rau quả Việt Nam

Address: 58 Nguyen Binh Khiem Street, Distrist 1, Ho Chi Minh City
Tel: (+848) 3829 6098
Fax: (+848) 382 96098
Email: vinafruit@hcm.vnn.vn
Website: www.vinafruit.com

19. Viet Nam Steel Association (VSA)
Hiệp hội Thép  Việt Nam

Address: 7th Floor, 91 Lang Ha Street, Ha Noi
Điện thoại: (+844) 3514 6230
Fax: (+844) 3514 5113
Email: hiephoithepvn@hn.vnn.vn
Website: www.vsa.com.vn

20. Viet Nam Pulp and Paper Association (VPPA)
Hiệp hội  Giấy và Bột giấy  Việt  Nam

Address: 18C Pham Dinh Ho Street, Ha Noi
Tel: (+844) 3821 0455
Fax: (+844) 3971 8684
Email: vietnampaper@hn.vnn.vn
Website: www.vppa.vn

21. Viet Nam National Cement Association (VNCA)
Hiệp hội Xi măng Việt Nam

Address: 37 Le Dai Hanh, Hai Ba Trung District, Ha Noi
Tel: (+844) 3974 0917
Fax: (+844) 3974 0918
Email: cemass@fpt.vn
Website: www.vnca.org.vn

22. Vietnam Food Association (VFA)
Hiệp hội Lương thực  Việt Nam

Address: 210 Nguyen Thi Minh Khai Street, District 3, Ho Chi Minh City
Tel: (+848) 3930 2614
Fax: (+848) 3930 2704
Email: vietfood@hcm.vnn.vn
Website: www.vietfood.org.vn

23. Vietnam Cashew Association (VINACAS)
Hiệp hội Điều Việt Nam

Address: 135 Pasteur Street, District 3, Ho Chi Minh City
Tel: (+848) 3824 2136
Fax: (+848) 3824 2138
Email: info@vinacas.com.vn
Website: www.vinacas.com.vn

24. Viet Nam Sugar Association
Hiệp hội Đường Việt Nam

Address: 1B Ngoc Ha Street, Ha Noi
Tel: (+844) 3733 9896
Fax: (+844) 3733 9896

25. Viet Nam Pepper Association (VPA)
Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam

Address: 4th Floor, 135A Pasteur, District 3, Ho Chi Minh City
Tel: (+848) 3823 7288
Fax: (+848) 3822 3901
Email: hotieuvietnam@vnn.vn

26. Viet Nam Fertilizer Association (FAV)
Hiệp hội Phân bón  Việt Nam

Address: 37 Nguyen Khang, Cau Giay District, Ha Noi
Tel: (+844) 3784 7174
Fax: (+844) 37847164
Email: tht1@fpt.vn
Website: www.hth.com.vn

27. Viet Nam Mecatronics Association
Hiệp hội tự động hóa Việt  Nam

Address: 184 Thai Thinh Street, Dong Da District, Ha Noi
Tel: (+844) 3853 1681
Fax: (+844) 3853 0683
Email: tudonghoa@hn.vnn.vn

28. Viet Nam Bicycle and Motocycle Association (VBMA)
Hiệp hội Xe máy – Xe đạp Việt Nam

Address: 231 Ton Duc Thang Street, Ha Noi
Tel: (+844) 3851 2522
Fax: (+844) 3851 7617
Email: vbma@hn.vnn.vn

29. Viet Nam Building Ceramic Association (VIBCA)
Hiệp hội gốm sứ xây dựng Việt Nam

Address: Lane 235 Nguyen Trai Street, Thanh Xuan District, Ha Noi
Tel: (+844) 3858 4949
Fax: (+844) 3558 0824
Email: vibca@viettel.com.vn
Website: www.vnceramic.org.vn

30. Viet Nam Association of Liquor, Beer and Beverage
Hiệp hội Bia – Rượu – Nước giải khát Việt Nam

Address: 94 Lo Duc Street, Ha Noi
Tel: (+844) 3821 8433
Fax: (+844) 3821 8433
Email: hhbrvn@fpt.vn
Website: www.vba.com.vn

31. Viet Nam Pharmaceutical Companies Association (VNPCA)
Hiệp hội Doanh nghiệp dược Việt Nam

Address: 4th floor, Block B, 138B Giang Vo Street, Ba Dinh District, Ha Noi
Tel: (+844) 3846 5223
Fax: (+844) 3846 5224
Email: vnpca@fpt.vn
Website: www.vnpca.gov.vn

32. Viet Nam Banks Association (VNBA)
Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam

Address: 193 Ba Trieu Street, Ha Noi
Tel: (+844) 3821 8733
Fax: (+844) 3974 2309
Email: info@vnba.org.vn
Website: www.vnba.org.vn

33. Association of Vietnamese Insurers (AVI)
Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam

Address: 8th Floor, 141 Le Duan Street, Ha Noi
Tel: (+844) 3942 8106
Fax: (+844) 3942 2601
Email: hhbaohiem@hn.vnn.vn
Website: www.avi.org.vn

34. Viet Nam Association of Financial Investors (VAFI)
Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính Việt Nam

Address: Suite 1404, 17T4, Trung Hoa Nhan Chinh, Thanh Xuan District, Ha Noi
Tel: (+844) 3251 0985
Fax: (+844) 3251 0985
Email: office@vafi.org.vn
Website: www.vafi.org.vn

35. Viet Nam Association of Small and Medium Enterprises (VINASME)
Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Address: 12, Lot A, Tran Duy Hung Street, Ha Noi
Tel: (+844) 3556 4499
Email: admin@vinasme.com.vn
Website: www.vinasme.vn

36. Viet Nam Association of Craft Villages (VICRAFTS)
Hiệp hội làng nghề Việt Nam

Address: 14, Lane 2, Hoa Lu Street, Ha Noi
Tel: (+844) 3974 5347
Fax: (+844) 3974 5347
Email: nganhnghett@yahoo.com
Website: www.vicrafts.com, www.vietcraftb2b.com

37. Viet Nam E-Commerce Association (VECOM)
Hiệp hội Thương mại Điện tử Việt Nam

Address: Room 410, 25 Ngo Quyen Street, Ha Noi
Tel: (+844) 2220 5188
Fax: (+844) 2220 5188
Email: office@vecom.vn
Website: www.vecom.vn

38. Viet Nam Tourism Association (VITA)
Hiệp hội Du lịch Việt Nam

Address: 38 Yet Kieu Street, Ha Noi
Tel: (+844) 3942 7620
Fax: (+844) 3942 7621
Email: vtoa@hn.vnn.vn
Website: www.vita.vn

39. Viet Nam Association of Construction Contractors (VACC)
Hiệp hội các nhà thầu xây dưng Việt Nam

Address: Suite 706, A Building, Hacinco Village, Hong Lien Street, Thanh Xuan District, Ha Noi
Tel: (+844) 3558 9925
Fax: (+844) 3558 9924
Email: vacc@hn.vnn.vn

40. Viet Nam Association for Oil Essentials and Cosmetic Material
Hiệp hội tinh dầu và mỹ phẩm Việt Nam

Address: 64 Truong Dinh Street, District 3, Ho Chi Minh City
Tel: (+848) 3932 2247

41. Viet Nam Freight Forwarders Association (VIFFAS)
Hiệp hội giao nhận kho vận Việt Nam

Address: 8th Floor, 171 Vo Thi Sau Street, District 3, Ho Chi Minh City
Tel: (+848) 3932 2791
Fax: (+848) 3932 2791
Email: viffas-hcm@vnn.vn
Website: www.viffas.org.vn

42. Viet Nam Packaging Association (VINPAS)
Hiệp hội bao bì Việt Nam

Address: 159 Kinh Duong Vuong Street, District 6, Ho Chi Minh City
Tel: (+848) 3751 2561 (Ext 106)
Fax: (+848) 3751 2562
Email: hhbbvn@hcm.vnn.vn
Website: www.vinpas.vn

43. Viet Nam Seaports Association (VPA)
Hiệp hội Hải cảng Việt Nam

Address: 3 Nguyen Tat Thanh, District 4, Ho Chi Minh City
Tel: (+848) 3940 1030
Fax: (+848) 3940 0168
Email: vpa@hcm.vnn.vn
Website: www.vpa.org.vn

44. Viet Nam Real Estate Association (VNREA)
Hiệp hội Bất động sản Việt Nam

Address: Area D, Thang Long International Village, Cau Giay District, Ha Noi
Email: batdongsanvietnam@batdongsanvietnam.net.vn
Website: www.batdongsanvietnam.net.vn

45. Viet Nam Software Association (VINASA)
Hiệp hội Doanh nghiệp phần mềm Việt Nam

Address: 5th Floor, Center of Science – Technology & Vietnam Youth Talent, 7 Xa Dan Street, Dong Da District, Ha Noi
Tel: (+844) 3577 2336
Fax: (+844) 3577 2337
Email: vinasa01@hn.vnn.vn
Website: www.vinasa.org.vn

46. Viet Nam Ship Agents and Brokers Association (VISABA)
Hiệp hội Đại lý và Môi giới Hàng hải Việt Nam

Address: 62/5 Thach Thi Thanh, Tan Dinh Ward, District 1, Ho Chi Minh City
Tel: (+848) 3820 1392
Fax: (+848) 3820 6540
Email: visaba@vnn.vn
Website: www.visaba.org.vn

47. Viet Nam Shipowners’ Association

Address: 16th Floor, Ocean Park building, 1 Dao Duy Anh Street, Ha Noi
Tel: (+844) 3577 0825
Fax: (+844) 3577 0850

48. Viet Nam Association of Manpower Supply (VAMAS)
Hiệp hội xuất khẩu lao động Việt Nam

Address: 73 Nguyen Hong Street, Dong Da District, Ha Noi
Tel: (+844) 3776 3315
Fax: (+844) 3776 3312
Email: vamas@vnn.vn
Website: www.vamas.com.vn

49. Viet Nam Advertising Association (VAA)
Hiệp hội quảng cáo Việt Nam

Address: 6th floor, Savina Building, 1 Dinh Le Street, Ha Noi
Email: info@vaa.org.vn
Website: www.vaa.org.vn

50. Viet Nam Marketing Association (VMA)
Hiệp hội Marketing Việt Nam

Address: 6/1/7 Kim Dong Street, Hoang Mai District, Ha Noi
Tel: (+844) 3664 9668
Fax: (+844) 3664 9667
Email: info@marketingvietnam.org
Website: www.marketingvietnam.org

51. Viet Nam Lawyers Association (VLA)
Hội luật sư Việt Nam

Address: A2-261 Thuy Khue Street, Ha Noi
Tel: (+844) 8474830
Fax: (+844) 8474831
Email: vla@fpt.vn

Đăng bởi: quiet_volcano | Tháng Sáu 22, 2009

Hiệp hội ở đâu?

Theo thông lệ, giá gas trong nước chỉ tăng hoặc giảm vào đầu mỗi tháng khi giá hợp đồng (giá CP) được nhà cung cấp chính trên thị trường là Saudi Aramco chốt lại.

Căn cứ vào giá nhập khẩu này, các công ty trong nước tính toán và công bố giá một lần để ổn định thị trường, nhưng thông lệ này gần đây bị phá vỡ. Giá cả lên xuống thất thường.

Giá xăng dầu tăng làm cước vận chuyển tăng, trước đây chưa tăng đúng mức, hay giá thế giới dự kiến sẽ tăng… là những lý do được các doanh nghiệp đưa ra để giải thích cho việc tăng giá của mình. Nhưng dù giải thích thế nào thì vẫn là chuyện chạy đua vào cuộc tăng, giảm giá thay vì cải thiện dịch vụ để tăng sức cạnh tranh. Một doanh nghiệp trong ngành gas ví chuyện tăng giá này là “hành động ngang tàng” và rất cần sự can thiệp của Hiệp hội Gas VN, bởi theo ông, cái gì cũng phải có quy luật, trật tự và tôn trọng người tiêu dùng chứ không thể muốn tăng giảm tùy thích.

Thực tế có nhiều công ty đang mải chạy theo quyết định của một công ty. Không phủ nhận vai trò rất lớn của đơn vị kinh doanh có thị phần chi phối, nhưng trong lĩnh vực gas vẫn còn một số doanh nghiệp khác có bản lĩnh và chiến lược kinh doanh rõ ràng. Đã từng có công ty giảm giá đến 62.000đ/bình gas, dù đa số chỉ giảm 30.000đ, trong khi các công ty khác chạy đua với nhau về giá để tranh giành phần bánh giá rẻ thì công ty này vẫn “sống khỏe”.

Chúng ta còn có thể thấy câu chuyện tương tự ở nhiều sản phẩm xuất khẩu khác mà gần đây nhất là chuyện cá ba sa. Giá cá ba sa xuất khẩu liên tục bị nhà nhập khẩu ép, chính vì một số nhà xuất khẩu VN tự nguyện hạ giá để bán được hàng.

Ngay tại Hội chợ thủy sản VN (Vietfish) vừa diễn ra tại TP.HCM, nhiều doanh nghiệp chỉ biết than trời vì chứng kiến chuyện bán phá giá. Hay chủ một doanh nghiệp cà phê ở Đắc Lắc mới đây than hụt mất một hợp đồng vì có đơn vị khác chào giá thấp hơn, mà theo ông, mức giá đó là không thể. Rồi câu chuyện “ông nói gà bà nói vịt” trong ngành du lịch mới đây cho một chiến dịch “làm mới” hình ảnh du lịch VN, hay chuyện bơm tạp chất vào tôm dù chỉ là “con sâu làm rầu nồi canh” nhưng nó cũng cho thấy sự bất lực của các hiệp hội.

Qua các vụ kiện chống bán phá giá đối với hàng thủy sản, dệt may hay da giày mới thấy quyền lực của hiệp hội ngành nghề ở các nước mạnh đến cỡ nào. Trong một chuyến làm việc gần đây ở VN, lãnh đạo của Association pour le Développement de l’Exportation du Vin de Bordeaux (ADEB – Hiệp hội Phát triển xuất khẩu rượu vang Bordeaux,  Pháp) khẳng định những tiêu chuẩn về chất lượng được ADEB đóng dấu cho doanh nghiệp thành viên của mình có giá trị còn hơn cả luật pháp của nước này.

Doanh nghiệp nào không tuân thủ đúng luật chơi của hiệp hội thì đừng mơ đến chuyện bán hàng tại thị trường nội địa hay xuất khẩu. Ở Thái Lan, cũng chính nhờ vai trò điều phối nhuần nhuyễn và bài bản của hiệp hội mà ngành du lịch nước này phát triển chứ không phải của nhà nước.

Nhà nước không thể can thiệp vào “chuyện bếp núc” của doanh nghiệp mà chỉ có hiệp hội. Hiệp hội được lập ra để bảo vệ thành viên và đặt ra luật chơi với mục tiêu không gì khác hơn là bảo đảm sự công bằng, hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp và trách nhiệm đối với người tiêu dùng, với xã hội.

LÊ NGUYÊN MINH

Source: www.tuoitre.com.vn

Đăng bởi: quiet_volcano | Tháng Sáu 19, 2009

Làm chính sách ngày càng khó

Công luận, thông qua báo chí và đặc biệt là các đại biểu Quốc hội sắp được bầu, chính là nơi thúc đẩy việc hình thành chính sách có lợi nhất cho số đông thầm lặng mà nếu không, sẽ chẳng bao giờ hình thành được nhóm lợi ích có tiếng nói mạnh mẽ tác động đến chính sách kinh tế.

Ngày trước, cùng với quá trình chuyển từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường, việc xây dựng và thực hiện các chính sách kinh tế tương đối thuận lợi. Những gì tạo điều kiện cho thị trường hoạt động theo qui luật cung cầu dễ được chấp nhận và nhanh chóng đạt hiệu quả cao. Từ khoán nông nghiệp, cho nông dân bán nông sản trên thị trường tự do, đến việc thúc đẩy khu vực kinh tế dân doanh qua các bộ luật kinh doanh ngày càng thông thoáng, cởi mở – tất cả những chính sách này đã tạo sự khởi sắc cho nền kinh tế trong một thời gian ngắn.

Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay, các chính sách kinh tế không còn rạch ròi giữa cơ chế cũ và cơ chế mới như thế nữa; tác động của chính sách ngày nay khó đo lường hơn bởi sẽ có những người hưởng lợi từ chính sách mới và cũng có những người chịu thiệt thòi vì chúng. Chẳng lạ gì, việc hình thành chính sách mới khó khăn hơn; việc dự thảo chúng được tranh cãi nhiều hơn và việc thực hiện chúng đòi hỏi sự theo dõi, điều chỉnh ngày càng tinh tế hơn.

Xin lấy một vài ví dụ gần đây nhất. Quyết định giao quyền định giá xăng cho doanh nghiệp sẽ có lợi cho doanh nghiệp kinh doanh xăng, được chủ động hơn trong kinh doanh, không sợ lỗ và buộc các doanh nghiệp khác tiêu thụ xăng phải hạch toán đầy đủ chi phí, phải có biện pháp tiết kiệm xăng…

Ở hướng ngược lại, nhiều người lo ngại doanh nghiệp sẽ ép giá người tiêu dùng, giá cả sẽ biến động, người hưởng lương cố định sẽ gặp khó khăn hơn. Chí ít, như thừa nhận của Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển: “Bây giờ chúng ta để các doanh nghiệp quyết định giá thì giá miền núi đắt hơn miền xuôi. Cuộc sống là như thế, chúng ta hiện nay chưa cân bằng được, chưa xóa bỏ được chênh lệch giữa miền núi và miền xuôi, giữa thành thị và nông thôn”.

Những chủ trương đang được thí điểm hay dự thảo gây nhiều tranh luận có thể kể thêm chuyện cổ phần hóa bệnh viện và trường đại học. Cũng là theo định hướng thị trường, một khi ngân sách không thể bao quát hết mọi bệnh viện và trường học công thì đành phải “xã hội hóa” bằng cách cổ phần hóa, nhằm vừa nâng cao chất lượng điều trị hay giảng dạy, vừa dùng ngân sách tập trung lo cho các cơ sở công lập khác một cách đầy đủ hơn.

Nhưng có thật qui luật thị trường sẽ tỏ ra hiệu quả trong lĩnh vực này hay chính việc cổ phần hóa sẽ càng làm một số dịch vụ giáo dục, y tế xa dần tầm với của người dân nghèo, tạo ra những bất công mới trong xã hội?

Nhiều ví dụ như thế chứng tỏ chính sách kinh tế hiện nay không còn mang tính kinh tế thuần túy mà liên quan đến nhiều vấn đề xã hội khác. Đứng trước biết bao cân nhắc, đo lường tác động chính sách lên các nhóm lợi ích khác nhau, nhà hoạch định chính sách cần có bản lĩnh hơn bao giờ hết và tối hậu trong các ưu tiên cân nhắc phải luôn luôn là lợi ích của số đông, là sự bền vững của kết cấu xã hội, là sự công bằng tương đối cho càng nhiều người càng tốt, là sự bảo vệ môi trường sống và tương lai của con cháu chúng ta.

Mỗi chính sách khó lòng thỏa mãn hết tất cả các đối tượng chịu tác động, cho nên người hoạch định chính sách tiếp cận vấn đề từ càng nhiều góc độ chừng nào sẽ càng tìm ra nhiều giải pháp chừng đó. Tại sao không nghĩ xa hơn một chút, thay vì cổ phần hóa bệnh viện công, chúng ta có những chính sách khuyến khích sự ra đời của nhiều bệnh viện tư nhân bằng ưu đãi về cấp đất hay miễn thuế, biết đâu nhờ thế mục tiêu ban đầu của việc cổ phần hóa bệnh viện lại đạt được mà không gây xáo động lớn cho ngành y tế?

Ở đây, vai trò một xã hội dân sự với nhiều tiếng nói phản biện đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành chính sách sát với thực tế và đúng với lợi ích của số đông. Chỉ bằng cách khuyến khích nhiều tiếng nói đa dạng, nhiều nghiên cứu khách quan từ nhiều góc độ khác nhau, nhà hoạch định chính sách sẽ có thêm những thông tin mà nếu chỉ chủ quan cân nhắc trong nội bộ sẽ không có được.

Cho dù các ý kiến đóng góp không thể hiện trong chính sách, chúng cũng là những lưu ý sau này để khi triển khai chính sách, người thực hiện sẽ phải quan tâm. Cơ chế kiểm soát gián tiếp các công ty xăng dầu liên kết “làm giá” là một ví dụ. Trong vụ thép Việt – Ý gia công thép ở Trung Quốc đem về bán tại Việt Nam làm tốn khá nhiều giấy mực của báo chí trong thời gian qua, Bộ Thương mại đã có tiếng nói đúng đắn sau cùng.

Nhưng sự lên tiếng ban đầu của Hiệp hội Thép xem ra cũng cần thiết không kém, để nay thép Việt – Ý bán ra thị trường phải làm rõ thép nào sản xuất ở trong nước, thép nào gia công ở Trung Quốc. Nếu không có sự lên tiếng đó, người tiêu dùng có thể không biết và có thể nhầm lẫn.

NGUYỄN VẠN PHÚ

Source: Báo Tuổi Trẻ

Đăng bởi: quiet_volcano | Tháng Sáu 16, 2009

Nhóm lợi ích và trí thức

Một cách ngẫu nhiên, cụm từ “nhóm lợi ích” bắt đầu xuất hiện nhiều ở Việt Nam trong thời gian vừa qua, kèm theo một hàm ý xấu. Người ta dùng cụm từ này để nhắc đến những tác động lên chính sách nhằm phục vụ cho lợi ích của một nhóm người nào đó, như doanh nghiệp lắp ráp ô tô đối chọi với lợi ích của người tiêu dùng chẳng hạn.

Thật ra, bản thân các nhóm lợi ích không xấu, không tốt – nó là một tiến trình không tránh được trên con đường phát triển xã hội khi những người có chung lợi ích tập hợp lại để có thể tác động mạnh hơn lên các chính sách kinh tế, xã hội. Chúng ta dị ứng với cụm từ “nhóm lợi ích” có lẽ vì những nhóm nhỏ nhưng được tổ chức tốt, có nguồn lực mạnh lại dễ tạo ra tác động mà thường là đi ngược với lợi ích của số đông, của xã hội nói chung.

Ngược lại, đại diện cho lợi ích của những tầng lớp dân cư đông đảo ví dụ những người mà cuộc sống bị xáo động bởi các dự án hạ tầng thiếu hiệu quả, thực hiện kéo dài, lại hầu như không tồn tại hay chỉ được đại diện gián tiếp qua những tiếng nói công luận trên báo chí.

Chúng ta dễ dàng thấy sự đối nghịch này khi xếp một bên là toàn bộ nông dân trồng lúa và một bên là các doanh nghiệp xuất khẩu lúa gạo. Con số nông dân to lớn ấy, cũng là một nhóm lợi ích, sẽ không thể nào so sánh được với con số doanh nghiệp ít ỏi vì nhóm lợi ích sau dễ có những biện pháp tác động lên người làm chính sách hơn, đặc biệt là với các doanh nghiệp nhà nước.

Để tạo lập sự cân bằng và để cụm từ “nhóm lợi ích” mang tính trung hòa, rõ ràng cần phải xây dựng một xã hội dân chủ thật sự trong đó các hội đoàn đại diện cho những tầng lớp dân cư thật sự là đại diện cho quyền lợi của họ. Hội Nông dân phải nói được tiếng nói của nông dân; Hội Người tiêu dùng thật sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng…

Cũng chính từ đó, chúng ta có thể thấy vai trò không thể thiếu của người trí thức trong xã hội khi tiếng nói của họ, như tiếng nói của lương tri, sẽ đại diện cho số đông thường thầm lặng, không có tiếng nói riêng.

Một ví dụ gần nhất là khi Hiệp hội Ngân hàng cứ khăng khăng duy trì trần lãi suất 11% lên nền kinh tế, gây khó khăn thêm cho việc kiềm chế lạm phát, làm méo mó quan hệ kinh tế trên thị trường tiền tệ, nhiều trí thức, chuyên gia đã lên tiếng phân tích vì sao không nên và không thể duy trì một mức trần lãi suất như thế. Tiếng nói của họ đã góp phần vào việc thay đổi chính sách đối với lãi suất như chúng ta thấy trong nửa đầu năm 2008.

Vì thế chính sách tốt nhất đối với trí thức là tạo điền kiện để họ phản biện chính sách, mà báo chí là một kênh chuyển tải quan trọng. Có lẽ những người thật sự là trí thức không bao giờ đòi hỏi những ưu ái vật chất bởi bản thân họ hoàn toàn có đủ khả năng tạo cho mình những chỗ đứng mang lại lợi ích vật chất. Điều họ cần là sự lắng nghe, cho dù không phải bất kỳ lời nói nào của người trí thức đều đúng.

Bởi, nếu chúng ta xem người dân nói chung như một nhóm lợi ích, thì chính người trí thức là tiếng nói của nhóm lợi ích này, cũng phải được đối xử bình đẳng như tiếng nói của những nhóm lợi ích khác.

Thời báo Kinh tế Sài Gòn

Đăng bởi: quiet_volcano | Tháng Sáu 13, 2009

Tập đoàn lợi ích TQ: Bắt chính sách quốc gia làm con tin

Tiến bộ đột xuất nhất trong 30 năm cải cách mở cửa của Trung Quốc là đã chế độ hóa từng bước. Thể hiện đột xuất nhất của nó là sự chuyển giao quyền lực chính trị cao nhất càng ngày càng được tiến hành theo trình tự qui định trước, có một thời gian biểu đại thể. Điều đó có nghĩa là dân chúng Trung Quốc càng ngày càng biết một cách khẳng định là đại khái đến năm nào, vào lúc họp đại hội nào thì chỗ ngồi của người lãnh đạo nào sẽ giao cho ai.

Mặc dù loại chế độ hóa này chưa phải là dân chủ hóa, nhưng không được xem thường ý nghĩa lịch sử của nó: chế độ hóa như vậy đều rất quan trọng không chỉ dưới thể chế của đảng cộng sản sau năm 1949 mà còn với cả lịch sử Trung Quốc trên hai ngàn năm. Bởi vì tình trạng cơ bản trong lịch sử Trung Quốc là: hoàng đế không thể nghỉ hưu, vì hoàng đế là con trời. Đã tại vị là ông ta ngồi đến chết, trừ khi bị người lật đổ.

Từ cuối năm 1990 đến nay, chính là do chế độ hóa việc chuyển giao quyền lực cao nhất cũng như việc định kỳ hóa những hội nghị quan trọng liên quan đến việc đó (đây cũng là một phần của chế độ hóa) đã khiến cho trong xã hội Trung Quốc cứ vào dịp trước, sau việc thay thế ban lãnh đạo khóa mới, hoặc trước khi triệu tập hội nghị quan trọng nào đó, công chúng sẽ có rất nhiều chờ mong. Chờ mong cái gì?

Chờ mong có biện pháp quan trọng nào đó được đưa ra, chờ mong chính sách được đưa ra sẽ càng phù hợp với lợi ích của họ hơn, nói tóm lại là dân chúng chờ mong đưa ra “động tác lớn”, chính sách cải cách mở cửa có “đột phá lớn”.

Trong đời sống chính trị Trung Quốc, điều này đã trở thành sự chờ mong không ngừng lặp di lặp lại. Đáng tiếc là đối ứng với sự chờ mong không ngừng lặp đi lặp lại đó lại là sự thất vọng không ngừng. Mấy năm trước đây, mỗi khi tầng lớp cao có biến động nhân sự, là Trung Quốc có đủ loại tin đồn; đợi đến khi hoàn thành việc chuyển giao quyền lực, ban lãnh đạo mới nhận nhiệm vụ, hoặc kết thúc một hội nghị quan trọng, phần lớn dân chúng chờ mong Trung Quốc lại tương đối thất vọng.

Hiện tượng này phản ánh một vấn đề sâu sắc, tức sự kỳ vọng của nhân dân Trung Quốc đối với việc sáng tạo ra chính sách mới của mỗi khóa lãnh đạo mới phần lớn là sự chờ mong quá cao, đối với việc ban bố các biện pháp cải cách mở cửa trọng đại cũng chờ mong quá cao.

Nguyên nhân của việc chờ mong quá cao là vì chúng được thiết lập trên một sự coi thường căn bản, tức đã coi thường trong tiến trình 30 năm cải cách mở cửa, trong hệ thống chính trị và hành chính của Trung Quốc đã từng bước hình thành một số tập đoàn lợi ích đặc biệt tương đối ổn định vững chắc.

Sự xuất hiện của một số tập đoàn lợi ích Trung Quốc

Lúc mới bắt đầu, lực lượng những tập đoàn lợi ích đặc biệt này còn chưa đủ lớn, nhìn chưa rõ lắm cục diện phát triển lớn của toàn bộ công cuộc cải cách mở cửa, nhưng sau một thời gian dài, họ càng nhìn càng rõ. Như hiện nay họ đã biết một cách vô cùng rõ ràng rằng vào lúc nào, ở bộ phận, vị trí nào làm cái gì và làm như thế nào, nói cái gì và nói như thế nào thì mới có thể làm cho lợi ích đặc biệt của tập đoàn mình nhanh chóng to lớn lên nhất.

Còn nhớ, sau lần ra nước ngoài học tập về nước, một người bạn làm việc trong ngành thể chế có bảo: “Bạn ở nước ngoài đã gần 10 năm, sau khi trở về cần phải thay đổi kính khi quan sát vấn đề Trung Quốc. Khi bạn ra nước ngoài, Trung Quốc đang ở thời kỳ đầu của cải cách mở cửa, phần lớn những tranh luận lớn đều liên quan tới hình thái ý thức, bây giờ khác rồi, mọi người càng ngày càng làm rõ lợi ích thực tế của mình là ở đâu, cho nên mâu thuẫn hiện nay là các tập đoàn lợi ích đặc biệt, khác nhau đang vật lộn với nhau, vấn đề ý thái hình thức trở thành rất thứ yếu.”

Bây giờ nghĩ lại thấy câu nói đó đúng là một quan điểm của một người minh bạch, vô cùng cảnh tỉnh. Đương nhiên người có nhận thức như vậy càng ngày càng nhiều, nhưng ngay từ mùa thu năm 1993 mà đã có cách nhìn đó, quả thực là một phán đoán chuẩn xác.

Trong cuốn “Sự hưng, vong của một quốc gia” (The rise and decline of nations) của Giáo sư Mancur Olson Trường Đại học Maryland, Mỹ, chữ “quốc gia” mà ông dùng không phải là state (chính quyền quốc gia) mà là nation, thể hiện rất phù hợp với định nghĩa quốc gia của người Trung Quốc chúng ta, vừa bao gồm chính quyền cũng bao gồm nhân dân.

Điểm quan trọng của cuốn sách này là, bất kỳ một quốc gia nào chỉ cần có thời gian ổn định chính trị đủ dài là sẽ xuất hiện tập đoàn lợi ích đặc biệt, hơn nữa chúng sẽ trở nên càng ngày càng minh bạch, thành thục, có kỹ xảo.

Sau đó chúng sẽ càng ngày càng biết nên thao túng chính sách công quan trọng nhất của quốc gia, sự phát triển kinh tế của quốc gia, bộ máy chính trị, nhất là hành chính và pháp luật của bộ máy đó như thế nào, hiểu được khi thao túng phải làm thế nào để tìm được lý do tốt. Vì kỹ xảo của chúng càng ngày càng thành thạo, nên lợi ích thu được càng ngày càng bền vững, càng nhiều.

Cuối cùng dần dần dẫn tới thể chế, chính sách, tổ chức về các mặt như kinh tế, xã hội, hành chính, pháp luật v.v.. của quốc gia đó biến thành sự sắp xếp phù hợp nhất với tập đoàn lợi ích đặc biệt, khiến động lực mới của sự phát triển của quốc gia này càng ngày càng bị kiềm chế, các ngành càng ngày càng sơ cứng, điều này tất dẫn đến sự suy vong của quốc gia.

Thời đại Mao Trạch Đông từ năm 1949 đến năm 1977, ở Trung Quốc lúc đó rất khó tìm được tập đoàn lợi ích đặc biệt nào có ý nghĩa kinh tế chính trị học (có một cái ngoại lệ, nhưng không nói ở đây – lời tác giả) bởi vì Chủ tịch Mao không để cho thể chế quốc gia ổn định, cứ mấy năm lại làm một phong trào.

Phong trào của Mao Trạch Đông làm tổn thương rất nhiều người, cần phải phủ định, nhưng về khách quan, những cuộc động loạn trời nghiêng đất lở cứ mấy năm một lần đó đúng là đã làm cho không dễ dàng hình thành được tập đoàn lợi ích đặc biệt ổn định chắc chắn.

Tất nhiên cũng có người nói, bên cạnh Mao Trạch Đông cũng có một tập đoàn lợi ích, nhưng Mao Trạch Đông không phải là người phân chia lợi ích về ý nghĩa kinh tế chính trị học, ông ta là kẻ thống trị tối cao, là hai việc khác nhau.

Từ ý nghĩa kinh tế chính trị học mà nói, tập đoàn lợi ích đặc biệt chỉ có thể từ từ hình thành và củng cố dưới sự ổn định chính trị tương đối dài. Trung Quốc bước vào thời đại Đặng Tiểu Bình, những động loạn lớn càng ngày càng ít, nhất là sau cuộc sóng gió năm 1989 đã duy trì được ổn định chính trị cơ bản 20 năm, cung cấp bầu không khí rất tốt cho việc hình thành tập đoàn lợi ích.

Tập đoàn lợi ích TQ “bắt cóc” chính sách công đặc biệt

Bất kỳ người nào nếu công tác tại Trung Quốc một khoảng thời gian, chỉ cần có lực quan sát nhất định là có thể kể ra một số tập đoàn lợi ích đặc biệt. Ví dụ như, ở Trung Quốc thường nghe nói hệ thống thủy điện là tập đoàn lợi ích quan trọng, nó lớn đến mức không chỉ các con sông lớn của Trung Quốc và ngay những con sông loại vừa cũng đều bị nó ôm lấy xây dựng nhà máy điện, đập lớn, mỗi cái đều hàng trăm triệu, hàng tỷ, hàng chục tỷ tiền vốn.

Nhiều người Trung Quốc cũng có thể nói được ai là đại biểu quan trọng nhất của tập đoàn lợi ích này, có cựu Bộ trưởng Bộ Thủy điện, có cựu Thủ tướng v.v. tất nhiên còn có một số nói chung là “các chuyên gia” luôn nghĩ cách tìm ra “lý do” khoa học kỹ thuật  để luận chứng cho các hạng mục của tập đoàn này.

Ngoài ra, ngành nhà đất xuất hiện trong 20 năm này cũng là một tập đoàn lợi ích đặc biệt, có thể đứng trong đội ngũ nhà đất không phải là những người bình thường bởi vì tài nguyên đất đai vô cùng thiếu hiếm, đặc biệt là ở những thành phố lớn. Càng không được coi thường, hệ thống sinh đẻ có kế hoạch cũng là một tập đoàn lợi ích.

Dân số Trung Quốc lão hóa vô cùng nhanh. Các nhà khoa học trong nước dự đoán, đến năm 2030 nếu xu thế khống chế dân số hiện nay không thay đổi, thì tỷ lệ công nhân viên chức tại chức và nghỉ hưu của Trung Quốc sẽ xuất hiện bước ngoặt căn bản, số người đi làm không gánh nổi gánh nặng số người đã nghỉ hưu.

Kinh nghiệm nhiều nước cho thấy biện pháp tốt nhất để khống chế sinh đẻ có kế hoạch là nâng cao trình độ học vấn, nhất là ở nông thôn và đối với phụ nữ, trên thế giới những phụ nữ có trình độ giáo dục trung cấp hoặc cao hơn nữa đều biết tự nguyện giảm thiểu sinh đẻ. Cưỡng bức chỉ dẫn tới phát sinh những bi kịch, tỷ lệ nam nữ mất cân đối là một ví dụ.

Vì sao Trung Quốc chưa làm được việc này, bởi vì  mấy chục năm qua chính sách sinh đẻ có kế hoạch đã tạo ra một tập đoàn lợi ích, ít nhất cũng tới mấy chục vạn người, hoặc còn nhiều hơn, dựa vào “sinh đẻ có kế hoạch” mà làm quan, nắm và khống chế tiền, quyền.

Ở Trung Quốc, hơn một nửa số người có thể nói ra một số tập đoàn lợi ích, nhưng những ai có quan hệ xã hội với chúng? Mỗi tập đoàn lợi ích đều không cần vận tác trên tài nguyên kinh tế mà điều quan trọng hơn là sự bảo hộ về chính trị. Tập đoàn lợi ích phải là thể kết hợp giữa tài nguyên chính trị với tài nguyên thương mại.

Những công dân bình thường ở Trung Quốc ngày nay dù có bất mãn với tập đoàn lợi ích đặc biệt cũng chẳng thể có biện pháp đối phó. Còn tập đoàn lợi ích đặc biệt sau khi bắt cóc chính sách công đặc biệt, những kết quả mặt trái tạo ra sau chính sách phát triển của quốc gia tức là bắt toàn xã hội, nhất là nhóm người dễ bị tổn thương phải trả tiền.

Đầu lớn của lợi ích, bọn họ ôm lấy còn đầu lớn của cái giá phải trả thì chủ yếu do những người dân bình thường gánh chịu. Vì vậy dưới cục diện đó, mỗi khi tầng lớp cao thay đổi khóa, cử hành hội nghị quan trọng, công chúng Trung Quốc chờ mong rất cao “chính sách mới ra đời”, “đưa ra biện pháp tốt”, nhưng rất nhanh chóng những chờ mong đó đã biến thành thất vọng.

So sánh với các tập đoàn lợi ích ở Mỹ, Tây Âu

Nói một cách khách quan, tập đoàn lợi ích đặc biệt không chỉ Trung Quốc mới có, mà là hiện tượng sau khi tiến vào công nghiệp hóa, thương mại hóa xã hội loài người thường gặp phải. Dưới thể chế tại Mỹ, Tây Âu có thể kể ra một số tập đoàn lợi ích đặc biệt như các tập đoàn lợi ích có liên quan tới dầu mỏ, tới ngành tài chính tiền tệ Mỹ v.v.

Trong các tập đoàn lợi ích đặc biệt tại Mỹ bị người ta chỉ trích nhiều nhất, chủ yếu là bị phái trung tả nước Mỹ kẹp chặt không buông là tập đoàn, ngành sản xuất quân sự. Ngành này không ngừng  kêu gào rằng nước Mỹ bị uy hiếp quân sự thì mới có thể hưởng được phần lớn hơn của cái bánh (ngoài ra còn có thể kể thêm luật sư cũng là một tập đoàn lợi ích đặc biệt tại Mỹ- người dịch lược bỏ đoạn này)

Mặc dù tại Mỹ và Tây Âu cũng tồn tại tập đoàn lợi ích đặc biệt, nhưng thể chế môi trường lớn của họ vô cùng khác Trung Quốc. Dưới thể chế Mỹ, Âu tập đoàn lợi ích nào đó có thể ảnh hưởng tới chính sách, pháp qui, nhưng không thể một tay che kín bầu trời.

Thứ nhất không có tập đoàn lợi ích đặc biệt nào có thể thao túng toàn quá trình bầu cử người đứng đầu hành chính cho dù có thể ảnh hưởng tới nó. Nếu không, chúng ta không thể giải thích trong bầu cử toàn quốc Mỹ, Âu, thường có những khuôn mặt mới đứng ra, ví dụ như Obama hiện nay là một ví dụ rất rõ.

Thứ hai, tập đoàn lợi ích cũng không thể thao túng bầu cử quốc hội toàn quốc, cho dù trong đó đúng là có một bộ phận là kẻ du thuyết cho họ, nhưng chúng không thể thao túng cả hai viện vào tay mình. Điều này cho thấy vì sao tại Mỹ khi tranh luận về chính sách của tập đoàn lợi ích quân sự, hai bên tranh cãi  ghê gớm mà phương án có lợi cho tập đoàn lợi ích quân sự vẫn bị phủ quyết.

Thứ ba, tập đoàn lợi ích đặc biệt cũng không thể một tay thao túng giới truyền thông, cho dù có thể ảnh hưởng tới một bộ phận trong đó.

Thứ tư Mỹ và Tây Âu là những nơi trình độ toàn cầu hóa vô cùng cao, trước sau đều ở trong cuộc canh tranh quốc tế dữ dội. Bất kể là xét từ lịch sử hay từ lý luận, một nước dính líu vào cuộc cạnh tranh quốc tế cao nhiều mặt, thì các tập đoàn lợi ích thường bị buộc phải có thỏa hiệp.

Bốn loại kiềm chế nói trên khiến các tập đoàn lợi ích đặc biệt Mỹ, Âu không thể bắt làm con tin chính sách phát triển và chiến lược phát triển quốc gia lâu dài, mặc dù nó có thể ảnh hưởng một thời gian, hoặc ở một nơi nào đó. Nhưng những điều kiện kiềm chế trên, trong thể chế hiện có của Trung Quốc nếu không tồn tại thì cũng vô cùng yếu ớt. Điều này mới là lý do khiến chúng ta phải hết sức quan tâm chú ý và lo lắng.

Lãnh đạo hành chính Trung Quốc không phải qua trình tự tranh cử công khai minh bạch bầu ra, nghị sĩ quốc hội và ủy viên Chính Hiệp cũng không phải do dân chúng bầu ra, có trên một nửa đại biểu hội đồng nhân dân các cấp là các quan chức đương nhiệm hoặc vừa nghỉ hưu, điều này đã tạo ra điều kiện tốt đẹp cho tập đoàn lợi ích đặc biệt củng cố mạng lưới của mình.

Đồng thời mặc dù Trung Quốc có rất nhiều phương tiện truyền thông, trên một số vấn đề nào đó có thể vạch trần một phần chân tướng nhưng trong phần lớn thời gian và trên phần lớn vấn đề quan trọng vẫn bị sự khống chế có hiệu quả, nhất trí trên toàn quốc.

Sự thay đổi khiến người ta tương đối được cổ vũ là trong 30 năm trong xu thế quốc tế hóa này, so với trước Trung Quốc đã có tiến bộ rõ ràng. Trong một lĩnh vực nào đó có khi tập đoàn lợi ích đặc biệt định lấy tay che lấp bầu trời nhưng khi thấy không ổn đã buộc phải lùi bước hoặc khuất phục, ví dụ hệ thống y tế Trung Quốc cũng là tập đoàn lợi ích đặc biệt, thời kỳ đầu của dịch Sars cũng đã định một tay che lấp bầu trời nhưng kết quả là do nguyên nhân quốc tế hóa, nên mới có chuyện mất quan, mất chức. Vụ sữa Tam Lộc lần này cũng không khác mấy, nếu không có sự can thiệp từ bên ngoài (của thủ tướng New Zealand) thì sự che giấu còn có khả năng tiếp tục kéo dài…

(đến đây tác giả bài báo còn phân tích một đoạn khá dài và rút ra kết luận, sự bắt cóc chính sách phát triển quốc gia của tập đoàn lợi ích đặc biệt sản xuất vũ khí Liên Xô trước đây là một trong những nguyên nhân cơ bản khiến Liên Xô sụp đổ – người dịch lược bỏ phần này)

Hiện nay tầng lớp cao Trung Quốc đúng là có những ý tưởng cầm quyền không giống với trước đây; một vài năm nữa, ban lãnh đạo cao cấp Trung Quốc lại thay khóa mới. Tôi nghĩ rằng những người lãnh đạo hiện nay và khóa sau, nếu trong lòng họ muốn làm một số động tác cải cách lớn nào đó, nhưng có thể do họ còn chưa có quyền uy giống như Đặng Tiểu Bình hồi đầu những năm 80 của thế kỷ trước, nên chưa thể có biện pháp buộc các tập đoàn lợi ích lớn mạnh có những nhượng bộ lớn. Và đó có thể là cục diện cơ bản trong nhiều năm sắp tới.

Vì vậy nếu muốn chính sách phát triển quốc gia, chính sách công của Trung Quốc không bị các tập đoàn lợi ích “bắt làm con tin” quá mức chúng ta chỉ có thể thúc đẩy một cách vững chắc Trung Quốc tiến vào cuộc cạnh tranh quốc tế nhiều mặt, đó mới là sự lựa chọn có suy nghĩ tương đối thực sự cầu thị, tương đối hiện thực.

Bài viết của tác giả Đinh Học Lương (Trung Quốc), tạp chí “Quan sát” tháng 10/2008. Mạng “Hua xia kuai di” ngày 19/10/2008

Dương Danh Dy (lược dịch)

Source: www.tuanvietnam.net

Đăng bởi: quiet_volcano | Tháng Sáu 12, 2009

Thuần dưỡng các nhóm lợi ích tư

Những nhóm lợi ích mới sẽ tiếp tục hình thành từ trong nước và từ nước ngoài vào. Dù cuộc cạnh tranh giữa chúng sẽ tiếp tục mạnh lên, nhưng không có gì đảm bảo rằng quyền lợi của đại bộ phận dân chúng sẽ được bảo vệ. Nếu không sớm thừa nhận và chuẩn bị sống chung với nó, các nhóm lợi ích tư này có thể ngăn chặn cải cách hoặc làm quá trình cải cách tuột khỏi sự kiểm soát, tạo ra một xã hội được thống trị bởi thiểu số (orligarchy).

Tương lai của các nhóm lợi ích tư

Xin nêu ra một ví dụ trên lĩnh vực kinh tế. Một tương lai tồi tệ có thể xảy ra là các nhóm lợi ích (trong hay ngoài nước) cấu kết với các quan chức để chiếm lấy số tài sản khổng lồ được cổ phần hóa với giá rẻ như cho, như đã xảy ra ở Nga thời kỳ tư nhân hóa theo liệu pháp sốc. Sau khi trở thành các tập đoàn tài phiệt, họ quay trở lại thâu tóm nền chính trị dưới thời Tổng thống Yeltsin để tiếp tục giành lấy những đặc quyền kinh tế cho mình.

Cho đến nay, các nhà tài phiệt Nga vẫn còn nắm tới 72% doanh thu dầu thô, 92% kim loại màu và 71% ôtô ở quốc gia công nghiệp rất giàu tài nguyên này. Nước Nga phải trả giá bằng những bất ổn chính trị khi Tổng thống Putin cố gắng khống chế ảnh hưởng của các nhà tài phiệt lên nhà nước.

Một phần là do sự e ngại kịch bản này, quá trình cổ phần hóa của VN diễn ra chậm chạp. Nhưng cổ phần hóa chậm có thể chỉ trì hoãn chứ không tháo ngòi nổ của việc thâu tóm tài sản vào tay một số nhóm lợi ích tư này. Nhất định các nhóm lợi ích tư này mong muốn điều đó. Và nhất định là nếu sự thống nhất của Nhà nước bị lung lay trong khi pháp luật còn lỏng lẻo, sẽ không gì có thể ghìm cương được họ.

Ẩn số và lời giải

Các nhóm lợi ích là hệ quả của xu thế đa dạng hóa về lợi ích do phát triển đem lại. Vì thế, lời giải hoàn toàn không phải là be bờ chặn đứng dòng nước chảy xuôi, mà là tạo ra các kênh dẫn để chúng làm lợi cho xã hội và đẩy nhanh cải cách. Nếu có hành lang pháp lý cho hoạt động lobby và quá trình ra chính sách minh bạch, các nhóm lợi ích sẽ phải thuyết phục công chúng thay vì đầu tư vào các quan chức.

Để tránh sự phê phán từ các tổ chức bảo vệ môi trường, các hãng ôtô sẽ đầu tư vào các dự án bảo vệ môi trường, an toàn giao thông. Sự cạnh tranh lành mạnh giữa các nhóm lợi ích sẽ góp phần soi sáng những ảnh hưởng đa chiều của cải cách và những lỗ hổng trong cơ chế.

Trong môi trường thiếu minh bạch, những lỗ hổng trong cơ chế chính là nơi các nhóm lợi ích xoáy vào để thu lợi. Ví dụ: cơ chế bộ chủ quản đối với các doanh nghiệp, trường học tạo ra các nhóm lợi ích nằm ngay trong bộ máy nhà nước và có quan hệ quá mật thiết với cơ quan công quyền. Việc định hướng không rõ ràng và dứt khoát tạo ra lý cớ cho các nhóm lợi ích thủ cựu cản trở cải cách.

Quá trình lập chính sách chưa minh bạch (thiếu thông tin về quá trình soạn thảo, ban hành và thực thi lẫn đánh giá tác động tới các nhóm xã hội) còn tạo cơ hội “đi đêm” của một vài nhóm lợi ích với các quan chức. Việc lấp những lỗ hổng này đã dần trở thành một nội dung chính của việc đẩy mạnh đổi mới ở nước ta.

Từ quan điểm của lý thuyết nhóm lợi ích, chúng ta đã phát hiện hai biến số còn bị thiếu: sự hình thành các nhóm lợi ích tư hưởng lợi từ cải cách và các nhóm lợi ích công. Từ đó, chúng ta sẽ có giải pháp từ dưới lên.

Một là, bất kỳ nhà nước nào muốn độc lập về chính sách đều phải tạo ra cho được cơ chế kiềm chế và đối trọng giữa các nhóm lợi ích tư. Như chúng ta đã phân tích, mỗi chính sách đều tạo ra đồng minh và đối thủ. Sự cạnh tranh giữa các nhóm có quyền lợi đối nghịch sẽ làm giảm bớt sức tấn công vào nhà lập chính sách. Chẳng hạn, trong chính sách bảo hộ ôtô, một hiệp hội các nhà nhập khẩu ôtô (mới và cũ) sẽ tạo ra thế cân bằng trong chính sách phát triển ngành ôtô.

Đặc biệt là trong quá trình cải cách kinh tế – xã hội, luôn có những nhóm lợi ích thủ cựu do sợ mất quyền lợi (mất độc quyền, mất bảo hộ, trợ cấp) mà tìm mọi cách cản trở. Trong khi đó, những nhóm lợi ích mới được hưởng lợi từ cải cách (được sử dụng dịch vụ tốt hơn với giá rẻ hơn, cơ hội việc làm…) lại chưa được hình thành để làm thành đối trọng. Thực tế là việc hình thành các nhóm lợi ích tư mới, hưởng lợi từ cải cách ở VN còn khá chậm chạp. Muốn tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, Nhà nước phải chủ động nâng đỡ các nhóm mới này làm đồng minh cho mình.

Hai là, các nhóm lợi ích công (các nhóm bảo vệ môi trường, bảo vệ người tiêu dùng, hỗ trợ nông dân, công đoàn…) và truyền thông có thể là khắc tinh của các nhóm lợi ích tư. Bởi vì yếu huyệt của các nhóm lợi ích tư là họ khó biện minh được cho lợi ích ích kỷ của mình. Họ thường thông qua những vận động hậu trường nhằm thay đổi chính sách. Khi đương đầu với các nhóm lợi ích công trên báo chí, họ sẽ không còn có thể “múa tay trong bị” như khi một mình đem tiền đến nhà các quan chức.

Ở nước ta, cho đến nay, trong những vấn đề thiết yếu với người dân như độc quyền thuốc, không thấy bóng dáng của các hội bảo vệ người tiêu dùng. Đây là hệ quả của thời kỳ tập trung hóa quá mức đời sống xã hội ở nước ta. Chỉ khi có các tổ chức đại diện hữu hiệu để chống lại các tập đoàn lợi ích hùng mạnh, người dân mới thoát khỏi tình trạng “thất bại trong phối hợp”.

Để đảm bảo cho mỗi chính sách trong tương lai thật sự đại diện cho lợi ích của số đông, nhất thiết phải tạo điều kiện cho các nhóm lợi ích công hình thành. Đương nhiên, muốn có đồng minh tin cậy, Nhà nước phải nới bớt quyền kiểm soát với chính các đồng minh ấy trước. Đã có những dấu hiệu đột phá khi Chính phủ giao cho Liên hiệp Các hội khoa học kỹ thuật dự thảo luật về hội. Liệu có một cuộc cởi trói cho các hội, để từ đó gây được sự ủng hộ to lớn của quảng đại quần chúng với công cuộc đổi mới, hay chính cuộc cởi trói này sẽ bị chặn lại bởi các nhóm lợi ích thủ cựu? Ẩn số này sẽ ảnh hưởng to lớn đến tương lai của đất nước.

Huy động các nhóm lợi ích công cho cải cách: trường hợp Philippines

Các nền dân chủ non trẻ rất dễ bị tổn thương bởi các nhóm lợi ích. Trong thời kỳ dân chủ (1946-1972), nền chính trị của Philippines, dù có các thiết chế dân chủ tương tự như Mỹ, vẫn bị lũng đoạn bởi sự cấu kết giữa các nhóm lợi ích tư. Các nhóm này hình thành từ một bên là khoảng 100 gia đình tài phiệt muốn giành đặc quyền đặc lợi, với một bên là các chính trị gia cần tiền để mua phiếu bầu. Bị lũng đoạn, nền dân chủ của Philippines sụp đổ, nhường bước cho nền độc tài của Marcos. Toàn bộ nhà nước lại trở thành một nhóm lợi ích khổng lồ tập trung xung quanh Marcos.

Philippines chỉ hồi sinh nhờ sự phát triển của các nhóm lợi ích công được sự ủng hộ to lớn từ dân chúng. Ngày nay, có tới 14.000 tổ chức dân sự phi tôn giáo ở đất nước hơn 80 triệu dân này. Để chống lại các nhóm lợi ích tư đã cắm rễ vào từng ngóc ngách của chính quyền, các chính quyền hậu Marcos đã chủ động nâng đỡ và đưa các nhóm lợi ích công vào quá trình lập chính sách, như tổ chức các “hội nghị thượng đỉnh dân tộc”, các “bàn tròn” với các đại diện của các nhóm lợi ích công.

Không những thế, chính quyền còn tạo ra các hội đồng về các vấn đề xã hội và cải cách ở cấp chính phủ, trong đó có sự tham gia của các nhóm này. Kết quả là chính quyền có được sự ủng hộ rộng rãi của dân chúng để cải cách toàn diện.

Từ 1992-1998, có tới 85 luật cải cách xã hội được thông qua. Mặc dù còn những di sản nặng nề của nhiều thập kỷ bị lũng đoạn bởi các nhóm lợi ích tư, Philippines có thể được coi là một ví dụ sinh động về ảnh hưởng to lớn, tích cực và từ dưới lên của các nhóm lợi ích công trong cải cách toàn diện.

Tạo đối trọng giữa các nhóm lợi ích: trường hợp Mỹ

Thomas Jefferson, một trong những “nhà lập quốc” của Mỹ, tin rằng các nhóm lợi ích vận động chính quyền cho những lợi ích của họ chính là biểu hiện của nền dân chủ tự do. Vấn đề chỉ là có pháp luật minh bạch và tạo thế đối trọng giữa các nhóm. Tuy nhiên, trong một thời gian dài, chính quyền đã không tiến hóa kịp với sự phát triển khủng khiếp của các nhóm lợi ích, đặc biệt là sự cấu kết giữa các “tờ rớt” công nghiệp với chính giới vào đầu thế kỷ 20. Vào năm 1935, Hugo Black, một nghị sĩ, sau này trở thành chánh án Tối cao Pháp viện, từng báo động: “Đi ngược lại truyền thống, đi ngược lại đạo đức công cộng và thù địch với chính quyền trung thực, các nhóm lợi ích này đã đạt được vị thế quyền lực tới mức có thể đe dọa chính nhà nước”.

Nước Mỹ đứng trước hai đòi hỏi trái ngược: một mặt phải thừa nhận tính đa dạng về lợi ích, một mặt phải ngăn sự lũng đoạn chính sách. Rốt cuộc, họ giải quyết mâu thuẫn theo đúng truyền thống tự do của mình. Một mặt họ tạo ra hàng loạt luật và án lệ mới bảo vệ hệ thống chính trị và các đảng phái khỏi ảnh hưởng vận động hành lang về tài chính. Mặt khác, họ luật hóa các nhóm lợi ích, như các luật về các ủy ban hành động chính trị (PACs), về các công ty vận động hành lang. Chính sự tự do trong việc lobby chính sách đã tạo ra rất nhiều nhóm lợi ích cạnh tranh và đối trọng lẫn nhau.

Dù vậy, vẫn có lúc cả hệ thống chính quyền Mỹ bị chao đảo vì các nhóm lobby. Gần đây, một cơn địa chấn chính trị nổ ra trong quốc hội khi Abramoff, nhà vận động hành lang có thế lực nhất của Mỹ, bị kết tội trong một loạt scandal chính trị cao cấp. Sự thao túng của Abramoff sẽ không dừng lại nếu các đối thủ của ông ta trong giới lobby không cung cấp thông tin cho báo giới về các hoạt động mờ ám của Abramoff. Sau vụ khủng hoảng này, hàng loạt kiến nghị cải tổ luật về các nhóm lợi ích được đưa ra.

Trường hợp nước Mỹ cho thấy dù dân chủ và minh bạch là điều kiện cần để chống lại sự lũng đoạn của các nhóm lợi ích, nhưng không có giải pháp từ trên xuống nào là nhanh chóng và vĩnh viễn. Mỗi chính quyền phải chủ động phát triển cơ chế đề kháng thông qua các quá trình tự cải tổ lâu dài và đau đớn.

Nhưng lịch sử chính trị Mỹ cũng có rất nhiều ví dụ về những ảnh hưởng tích cực của các nhóm lợi ích công với chính sách: vào cuối thập kỷ 1990, dưới sự lobby của các tập đoàn dược phẩm hùng mạnh, việc nhập khẩu thuốc theo đơn vào Mỹ rất ngặt nghèo. Không chịu nổi giá thuốc leo thang, các cụ già vùng đông bắc Mỹ, dưới sự tổ chức của các hội hưu trí, đã đi xe buýt sang Canada mua thuốc (trái phép). Phong trào bất tuân dân sự này ảnh hưởng mạnh mẽ đến chính quyền. Dù cuộc chiến pháp lý giữa các tập đoàn thuốc và người tiêu dùng còn tiếp diễn, nhưng hàng loạt tiểu bang đã mặc cả với các hãng thuốc để giảm giá cho người nghèo hay nới lỏng qui định nhập khẩu thuốc.

NGUYỄN AN NGUYÊN  (Nghiên cứu sinh kinh tế, Rice University, USA)

Source: www.tuoitre.com.vn

Đăng bởi: quiet_volcano | Tháng Sáu 11, 2009

Private Interest Groups in Vietnam

Các nhóm lợi ích tư ở Việt Nam

Đằng sau các chính sách của Nhà nước (chẳng hạn bảo hộ công nghiệp ôtô) luôn có những nhóm người hưởng lợi (các tập đoàn sản xuất ôtô trong nước) và những nhóm bị thiệt thòi (người tiêu dùng, các nhà nhập khẩu).

Các nhóm này có xu hướng liên kết lại thành các nhóm/tập đoàn lợi ích để cùng nhau gây ảnh hưởng “mềm” với các quan chức và bộ máy nhà nước nhằm có được đặc quyền.

Các nhóm lợi ích muốn hai thứ từ Nhà nước: các đặc lợi từ chính sách (thuế, trợ cấp, bảo hộ, quyền độc quyền…), và sự ưu ái của các quan chức thực thi chính sách (các hợp đồng với Nhà nước, sự bảo kê…). Ở phương Tây, họ sử dụng các phương thức hợp pháp, từ vận động hậu trường, tài trợ cho việc lập chính sách đến vận động phiếu bầu, phản đối qua công luận… Trong các nền chính trị không minh bạch, hình thức vận động hiệu quả nhất là mua chuộc quan chức.

Có thể chia ra hai loại: nhóm lợi ích công, vận động cho lợi ích của một số đông hoặc toàn xã hội như bảo vệ môi trường, các công đoàn, hội nông dân… và nhóm lợi ích tư, chỉ vận động cho lợi ích cục bộ của một số rất nhỏ các thành viên (như các doanh nghiệp trong một ngành đòi bảo hộ cho mình…). Chính những nhóm lợi ích tư ít thành viên nhưng có triển vọng thu lợi lớn từ việc bóp méo chính sách lại thường có khả năng cấu kết rất chặt, vì thế mà thường thành công hơn những đám đông to lớn thiếu tổ chức.

Trong nền kinh tế tập trung ở VN trước đổi mới, không tồn tại các thế lực kinh tế độc lập, đủ lớn để chịu ảnh hưởng lớn từ chính sách, và đủ mạnh để ảnh hưởng lên quyết định của Nhà nước. Quyền lực Nhà nước vào thời đó tập trung cao độ, khiến sự ảnh hưởng để thay đổi chính sách (dù là có lợi cho dân chúng) cũng rất khó khăn.

Nhưng nền kinh tế thị trường càng lớn thì lợi ích thu được từ việc ảnh hưởng chính sách trở nên khổng lồ. Đương nhiên, ai trong cuộc chơi của thị trường cũng đều cảm nhận rất rõ điều này: từ giới tư bản nước ngoài, các tổng công ty, các đại gia tư nhân cho đến những tập đoàn tội phạm. Tất cả đều ra sức thâm nhập và ảnh hưởng vào bộ máy nhà nước để giành đặc lợi. Trong khi đó, bộ máy nhà nước cũng ngày bớt thống nhất, dần trở thành người đại diện của các nhóm lợi ích khác nhau. (Tuyên bố của Bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển là ví dụ điển hình của tình trạng phân hóa này: “Mỗi ngành khi đi đàm phán đều có phương án đàm phán riêng của mình mà trưởng đoàn đàm phán không biết”).

Các nhóm lợi ích tư ở VN: họ là ai?

Các tập đoàn lợi ích tư thường nhân danh lợi ích quốc gia, nhưng thực tế thì thường vì lợi nhuận của chính họ. Hiệp hội các nhà sản xuất ôtô VN (VAMA) là một tập đoàn lợi ích như thế. Được hưởng đặc lợi từ tầng tầng lớp lớp thuế và lệnh cấm đánh vào ôtô nhập khẩu, giá ôtô sản xuất ở VN luôn cao gấp 3-5 lần so với các nước. Dù thế, VAMA vẫn thường ỷ vào thế thống trị thị trường để cùng nhau nâng giá.

Mười một “đại gia” FDI trong VAMA vẫn đang cầm trịch thị trường ôtô. Có hãng ôtô nào khi đến một nước đang phát triển mà lại không vẽ ra viễn cảnh một ngành công nghiệp ôtô “hoành tráng” sánh ngang với Hàn Quốc vài thập kỷ trước?

Nhưng rốt cuộc, lợi ích dân tộc là gì sau 14 năm hi sinh lợi ích người tiêu dùng để ưu đãi các nhà tư bản (từ năm 1992 đến nay)? Dù luôn hứa hẹn nội địa hóa lên 30-40% trong vòng 10 năm, đến nay tỉ lệ nội địa hóa mà các doanh nghiệp thực hiện mới chỉ đạt 2-10%.

Dường như cầu ngoại viện bằng bảo hộ vẫn thường đưa đến những giấc mơ không thành về “công nghiệp mũi nhọn”, sau khi mang lại lợi nhuận khổng lồ cho nhà tư bản nước ngoài (và có thể cả những khoản lợi không nhỏ cho các quan chức ủng hộ nó). Dẫu sao, với ván bài ôtô, người cầm trịch cuối cùng vẫn là Chính phủ VN. Miễn là các quan chức hữu trách không bị “ảnh hưởng” bởi tập đoàn lợi ích hùng mạnh kia.

Vụ Zuellig Pharma Vietnam (ZPV) lại cho thấy sức mạnh của các nhóm tư bản nước ngoài và quyền khuynh đảo của họ với thị trường thuốc nhỏ bé của VN. ZPV là đại diện độc quyền của 27 hãng dược phẩm hàng đầu thế giới, từng phân phối 157 dòng thuốc ở VN. Trong nhiều năm, ZPV liên tục nâng giá thuốc, có loại tăng tới 60% một năm. Việc Bộ Y tế không “phát hiện” sự lũng đoạn thị trường của ZPV cho đến khi báo chí phanh phui cho thấy thế lực ngầm của ZPV. Nhưng việc Bộ Y tế rút quyền phân phối thuốc của ZPV sau đó đã chứng tỏ công ty ngoại quốc chưa kịp bám rễ vào cơ quan công quyền.

Dù sao, dẫu có mất quyền phân phối thì thế độc quyền của ZPV vẫn không suy suyển. (Các nhà nhập khẩu thuốc không thể mua được thuốc từ các hãng bào chế đã có số đăng ký cấp cho Zuellig Pharma). Quyền lực của các công ty dược phẩm khổng lồ vượt quá phạm vi một quốc gia, lợi ích của nó được các nước giàu bảo vệ nhiệt thành.

Vụ tham nhũng hàng chục triệu đôla từ việc mua bán thầu xây dựng các công trình của Petro VN cho thấy các nhóm lợi ích hình thành trong ruột của các đại công ty do Nhà nước hậu thuẫn. Các ngành công nghiệp qui mô lớn và mang tính kỹ thuật cao (dầu khí, viễn thông, ngân hàng, công nghiệp quốc phòng…) thường được coi là thiên đường của tham nhũng. Những hợp đồng khổng lồ trị giá hàng chục triệu USD nằm ngoài tầm rà quét của báo giới và dân chúng do tính chất phức tạp và “nhạy cảm” của chúng.

Chỉ có những công chức nằm sâu trong hệ thống đó mới biết rõ các ngóc ngách, có khả năng tạo ra các nhóm lợi ích rất nhỏ nhưng đủ sức móc rỗng ruột các tổng công ty hùng mạnh. Không cần dùng báo chí hay bất kỳ phương thức vận động hành lang ồn ào nào, chúng đi thẳng đến quyền lực thông qua con đường ngắn nhất: tiền.

Trái tim của các tập đoàn tham nhũng như thế nằm trong chính hệ thống. Các doanh nghiệp bên ngoài (như các công ty quốc tịch Nga liên quan) chỉ được dựng lên nhằm hợp thức hóa những nguồn lợi họ đã nhắm từ trước.

Đương nhiên, các tập đoàn lợi ích hình thành sớm nhất và có tổ chức nhất trong những ngành béo bở nhất. Nhưng trong các mảng khác của đời sống xã hội, cuộc đấu tranh giữa các nhóm lợi ích nhỏ hơn cũng không kém phần quyết liệt. Nhìn vào sự hình thành của luật về hội sau một thập kỷ tranh cãi, người ta dần hiểu rằng đây không đơn thuần là cuộc đấu tranh của các tổ chức xã hội đòi các cơ quan công quyền nới lỏng kiểm soát.

Tiến trình còn chậm vì còn những nhóm lợi ích thủ cựu (vested interest group) đang hưởng lợi từ nguyên trạng (được bao cấp cả về tài chính, tư tưởng và “thị phần”) ngăn cản các nhóm khác cởi trói. Những hội, tổ chức không thích nghi được trong nền kinh tế thị trường tìm mọi cách cản trở quá trình đổi mới. Đặc lợi của các nhóm này rất nhỏ so với những lợi ích của cải cách, nhưng những nhóm hưởng lợi từ cải cách lại không có kênh nào “mua chuộc” họ. Vì thế, các nhóm thủ cựu vận dụng mọi thứ, kể cả dựa vào ý thức hệ để bảo vệ lợi ích của mình.

Trong hệ thống giáo dục, các trường ĐH công lập vốn được hưởng các cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên lâu năm, vẫn tiếp tục vận động để hưởng trợ cấp hằng năm từ ngân sách. Ngay trong bộ máy hành chính, cũng lại có những tranh giành lợi ích.

Các chính quyền địa phương (thường tay trong tay với giới doanh nghiệp “tỉnh nhà”) luôn muốn giành các dự án lớn (khu công nghiệp, sân bay, hải cảng…) về cho địa phương mình (xem bài “Qui hoạch vụn: không có giải pháp”, VietNamNet, 9-10-2005). Các ngành thì muốn giữ quyền cấp phép và kiểm soát, những cỗ máy in tiền cho ngành (xem bài “Dự luật đầu tư: nhất cử nhất động đều phải đăng ký”, VietNamNet, 4-11-2005 ).

NGUYỄN AN NGUYÊN (Nghiên cứu sinh kinh tế, Rice University, USA)

Source: www.tuoitre.com.vn

Đăng bởi: quiet_volcano | Tháng Sáu 11, 2009

The first lesson: Vai trò của các Nhóm lợi ích

Tác giả: R. Allen Hays

Jeffrey Berry, The Interest Group Society: “Nhóm lợi ích là một tập đoàn có tổ chức của những người có cùng chung một số mục đích và họ muốn gây ảnh hưởng vào chính sách công. “

Nhóm (tập đoàn) lợi ích là một cơ chế quan trọng qua đó dân chúng Hoa kỳ đạo đạt các ý nghĩ, yêu cầu và quan điểm của họ tới các người đại diện dân cử. Người ta thường thấy có một nhóm/tập đoàn lợi ích tập trung vào các vấn đề họ quan tâm, dù vấn đề đó có thể rất là chuyên biệt. Danh bạ các hội thiện nguyện tại Mỹ cho thấy có rất nhiều lý do khiến cho các người dân họp nhau thành hội đoàn. Cuốn Bách khoa Tự điển các Hội đoàn của công ty Gale Research, Inc., được mọi người coi là danh sách đầy đủ nhất. Không phải hội đoàn nào cũng tích cực hoạt động chính trị, nhưng có nhiều hội đoàn cũng tìm cách ảnh hưởng tới chính sách trong lãnh vực công.

Cả cơ cấu tổ chức chính thức lẫn truyền thống không chính thức của chính trị Hoa kỳ đều tạo điều kiện phát triển tốt cho những nhóm lợi ích. Một đặc điểm của hệ thống Hoa kỳ khiến cho các nhóm lợi ích có nhiều ảnh hưởng là các đảng chính trị tại Mỹ tương đối yếu. Sở dĩ như vậy một phần là do sự phân chia quyền lực giữa ngành lập pháp và hành pháp. Trong một chế độ đại nghị như tại nước Anh, trong đó việc nắm quyền thủ tướng tùy thuộc vào hậu thuẫn của đa số trong Quốc hội, các đảng chính trị có ảnh hưởng rất nhiều tới những người có quyền lập pháp và, do đó, tới việc làm chính sách. Trái lại tại Hoa kỳ, bầu cử tổng thống và bầu cử Quốc hội là hai sự kiện chính trị khác nhau, dù được tiến hành cùng một lúc. Mỗi một ứng viên vào Quốc hội phải lập ra một liên minh để thắng phiếu trong tiểu bang hay khu bầu cử của mình. Các liên minh này về bản chất thì khác hẳn liên minh nhằm mang lại đa số phiếu mà một ứng viên tổng thống có thể quy tụ được. Chứng cớ rõ ràng nhất của tình trạng này là từ Thế chiến II đa số trong Quốc hội và đa số ủng hộ tổng thống thường là hai đảng đối lập nhau. Kết quả là cả đảng viên đảng Dân chủ lẫn đảng Cộng hòa đều không nhất thiết ủng hộ lập trường của tổng thống của đảng mình hay đề cương tranh cử của đảng mình. Vì lòng trung thành của đảng viên ra tranh cử với [đề cương của] đảng yếu, thành ra nhóm lợi ích tạo được ảnh hưởng mạnh thêm cả trong lúc tranh cử – vì sự hỗ trợ tài chánh của họ có thể có tính cách quyết định – lẫn sau khi bầu cử vì nhóm ủng hộ ứng viên được đắc cử trở nên có quan hệ rất mật thiết tới việc làm chính sách.

Một đặc điểm thứ hai của hệ thống khiến cho nhóm lợi ích phát triển là thể chế liên bang trong đó quyền lực chính trị được phân tán cho tiểu bang và các địa phương. Các tổ chức nhân dân thường phát xuất từ cấp tiểu bang và địa phương, sau đó mới họp thành tổ chức toàn quốc. Do đó hệ thống tản quyền khiến cho các nhóm lợi ích khác nhau phát triển. Hệ thống này cũng làm yếu hệ thống đảng phái chính trị, vì tình trạng kinh tế xã hội khác nhau của 50 tiểu bang khiến cho khó duy trì được kỷ luật đảng.

Thêm vào đó một ngành tư pháp mạnh và độc lập trong hệ thống chính quyền Hoa kỳ cũng giúp cho các nhóm lợi ích thêm thế mạnh. Các tòa tại Mỹ thường phán quyết về các vấn đề mà tại các nền dân chủ khác lại thuộc về thẩm quyền ngành lập pháp hay hệ thống hành chánh. Do đó các nhóm lợi ích có thể dùng hình thức kiện cáo để đạt được những mục tiêu chính trị mà họ không thực hiện được bằng con đường lập pháp. Thí dụ như vào những năm đầu tiên của thập niên 1950, các thắng lợi trước tòa của Hiệp hội Quốc gia cho sự Thăng tiến của dân Da Mầu (National Association for the Advancement of Colored People, NAACP) đã tạo ra các vết nứt rạn đầu tiên phá vỡ chính sách phân biệt chủng tộc tại Mỹ, nhiều năm trước khi Quốc hội-lúc bấy giờ gồm nhiều người miền Nam-sẵn sàng hành động.[1]

Sau hết, truyền thống tự do ngôn luận, báo chí và hội họp hầu như không giới hạn của Hoa kỳ có nghĩa là hầu như bất cứ một quan điểm nào của môt nhóm lợi ích, dù cấp tiến đến đâu chăng nữa, cũng được đưa ra công khai. Lẽ dĩ nhiên là xu hướng tập trung trong giới truyền thông từ Thế chiến II cũng khiến cho các nhóm hoạt động bên lề khó mà được người ta chú ý tới những điều họ muốn bầy tỏ. Tuy nhiên xu hướng tập trung này một phần đã bị hoá giải bởi sự kiện các nhóm đã trình bầy được quan điểm của mình qua trang mạng. Nói chung truyền thống tự do ngôn luận và tự do báo chí của Mỹ đã khuyến khích việc thành lập các nhóm lợi ích bằng cách cho họ có nhiều cơ hội phổ biến các vấn đề xã hội và bầy tỏ lập trường của họ đối với chính sách của lãnh vực công.

Thế giới của các nhóm lợi ích

Trước năm 1970, sách giáo khoa tại Mỹ về các nhóm lợi ích thường chỉ nói tới ba loại nhóm lợi ích: doanh nghiệp, lao động và nông nghiệp. Từ đó đến nay thế giới của các nhóm lợi ích đã trở nên phức tạp hơn. Các nhóm nông nghiệp hầu như đã mất ảnh hưởng vì số trại chủ ngày càng giảm tại Hoa kỳ. Hơn nữa, đã xuất hiện nhiều nhóm mới không thuộc vào bất cứ loại nào trong ba loại trên.

Doanh nghiệp

Đa số các nhà nghiên cứu đều đồng ý là doanh nghiệp giữ một vai trò trung tâm trong chính trị Hoa kỳ. Các đại công ty có uy tín là những thành phần quan trọng trong nền kinh tế Hoa kỳ. Vì các đại biểu dân cử thường được coi là các người phải chịu trách nhiệm về thành tích kinh tế quốc gia nên họ thường sợ là các chính sách bất lợi cho doanh nghiệp sẽ làm hại tới thành tích đó.

Tuy nhiên doanh nghiệp còn dùng những đòn bẩy ảnh hưởng trực tiếp nữa. Các đại công ty liên quốc cũng dành rất nhiều tài nguyên để vận động cho các mục tiêu chính trị. Họ thường là hội viên của các hiệp hội kinh doanh, nói lên quan điểm của toàn ngành công nghiệp trong tiến trình chính trị. Các công ty cũng ủng hộ cho các liên nhóm như Hiệp hội Quốc gia của các Công ty Chế xuất và Phòng Thương mại Hoa kỳ (National Association of Manufacturers and the U.S. Chamber of Commerce) là tiếng nói chung cho tất cả ngành doanh nghiệp. Sau hết các công ty riêng lẻ cũng trực tiếp vận động với các nhà làm luật; họ lại còn chuyển hàng triệu đô-la vào quỹ tranh cử của các ứng viên mà họ ủng hộ.

Công đoàn

Đầu thế kỷ 20, công đoàn phát triển chậm, nhưng đến năm 1930 thì đã chiếm được một vị thế quan trọng trong hệ thống chính trị Hoa kỳ. Đạo luật Quan hệ Lao động Quốc gia (National Labor Relations Act) bảo vệ việc thương lượng tập thể và khiến cho công đoàn lớn mạnh nhanh hơn. Vào những năm 1950 công đoàn có số hội viên cao nhất, chiếm 35 phần trăm của lực lượng lao động. Tuy nhiên từ các năm 1960 thi số hội viên bắt đầu giảm cho tới mức hiện tại là 15 phần trăm của thành phần dân số hoạt động. Thế lực chính trị của công đoàn cũng suy yếu đi theo với thế lực kinh tế của họ. Lý do cho sự suy yếu này, khá phức tạp và không thể giải thích chi tiết trong bài này, một phần do sự thay đổi bản chất kinh tế toàn cầu và sự thay đổi trọng tâm của kinh tế Mỹ từ sản xuất kỹ nghệ sang kinh tế phục vụ và tiêu dùng. Công đoàn, tuy thế, vẫn còn thế lực đáng kể khi họ tập trung năng lực vào một cuộc tranh cử hay một chính sách nào đó.

Hiệp hội Chuyên nghiệp

Một loại nhóm lợi ích quan trọng là hiệp hội chuyên nghiệp. Những đoàn thể như Hiệp hội Y sĩ Hoa kỳ và Hiệp hội Luật sư Hoa kỳ tập trung vào các quyền lợi, giá trị chung và tư thế nghề nghiệp của họ. Hiệp hội các chuyên viên trong lãnh vực công, tuy không mạnh bằng nhưng rất có tổ chức. Hầu như bất cứ ngành chuyên môn nào trong chính quyền tiểu bang và địa phương cũng có đoàn thể quốc gia của họ. Chẳng hạn như trong lãnh vực gia cư có những tổ chức như Hiệp hội toàn quốc các Viên chức về Gia cư và Tái thiết (National Association of Housing and Redevelopment Officials), Hội đồng Quốc gia các Cơ quan Gia cư của Tiểu bang (National Council of State Housing Agencies), và Hội đồng các Cơ quan Gia cư Công lập Lớn (Council of Large Public Housing Authorities). Theo luật của tiểu bang và liên bang các tổ chức đó không được hoạt động chính trị đảng phái. Tuy nhiên họ được điều trần trước Quốc hội về các vấn đề liên hệ tới chương trình hoạt động của họ và họ cũng gửi đại diện của đoàn thể đi nói chuyện với các đại diện dân cử cấp tiểu bang và địa phương của họ. Vì các người thu nhập thấp ở thuê tại các khu gia cư công lập rất ít khi họp lại thành các nhóm lợi ích có ảnh hưởng ở cấp quốc gia nên các hiệp hội của các cơ quan cung cấp nhà này là tiếng nói quan trọng cho thành phần dân số có thu nhập thấp trong diễn trình chính trị tại Mỹ.

Các đoàn thể liên chính quyền

Một loại đoàn thể có liên hệ tới loại đoàn thể trên là các nhóm lợi ích đại diện các đơn vị chính quyền tiểu bang và địa phương vận động cho lợi ích của mình trên tầm mức quốc gia. Tuy các đoàn thể này không có vai trò chính thức nào trong tổ chức liên bang của Mỹ – trong đó thẩm quyền được phân chia cho từng cấp chính quyền toàn quốc, tiểu bang và địa phương – họ cũng hoạt động như các nhóm lợi ích khác. Nghĩa là họ đạo đạt quan điểm của họ tới các đại biểu Quốc hội, tới chính quyền và bênh vực cho lập trường của họ trước giới truyền thông. Hiệp hội các Thống đốc (National Governors’ Association, NGA) và Hội nghị Toàn quốc của các Viện Lập pháp Tiểu bang (National Conference of State Legislatures) là các thí dụ điển hình. Vì các thống đốc tiểu bang có nhiệm vụ trực tiếp quản lý trách nhiệm chính trị trong việc thi hành các chương trình an sinh xã hội do chính quyền liên bang giao cho, nên NGA đặc biệt có ảnh hưởng giúp các đại biểu Quốc hội soạn thảo luật về an sinh xã hội. Các lợi ích tổng quát về định chế của các hạt (counties)[2] được đại diện bởi Hiệp hội Quốc gia các Hạt (National Association of Counties), lợi ích của các thành phố thì được đại diện được bởi Liên đoàn Quốc gia các Thành phố (National League of Cities) và Hội nghị các Thị trưởng Hoa kỳ (U.S. Conference of Mayors).

Các nhóm lợi ích công cộng

Loại nhóm lợi ích phát triển nhanh nhất từ năm 1970 đến nay là “nhóm lợi ích công cộng”. Nhà nghiên cứu chính trị Jeffrey Berry định nghĩa nhóm lợi ích công cộng là nhóm ủng hộ những mục tiêu không trực tiếp có lợi vật chất cho thành viên của nhóm nhưng nhóm cổ võ cho những giá trị liên hệ tới toàn thể xã hội. Những nhóm lợi ích công cộng đầu tiên xuất phát từ những phong trào đòi quyền công dân, quyền phụ nữ và bảo vệ môi sinh trong những năm 1960. Những người ủng hộ cho các cuộc tranh đấu này qua thời gian đã tiến hóa từ cách phát biểu quan điểm của mình bằng biểu tình phản đối chuyển sang chương trình hành động có tổ chức trong hệ thống chính trị. Về sau các nhóm lợi ích công cộng hoạt động về những vấn đề mới như quyền của những người khuyết tật, ngăn ngừa việc ngược đãi trẻ em hay ngăn ngừa bạo lực trong gia đình, và quyền của những người đồng tính luyến ái. Những nhóm này là những đoàn thể tranh đấu đòi các chương trình có lợi cho người nghèo. Trong số các đoàn thể tiên tiến thuộc loại này có những đoàn thể như Liên minh Gia cư của giới có thu nhập thấp (National Low Income Housing Coalition), Quỹ bảo vệ trẻ em (Children’s Defense Fund), và Công dân (Public Citizen) dưới sự lãnh đạo của Ralph Nader, người tranh đấu cho quyền lợi của người tiêu thụ.

Các nhóm lợi ích công cộng thường không có nhiều nguồn tài trợ như các nhóm doanh nghiệp. Tuy các vấn đề họ tranh đấu thường được đa số công chúng tán trợ (căn cứ theo các cuộc thăm dò dân ý), nhưng chỉ một số rất ít các nhóm này có nhiều hội viên trong quảng đại quần chúng. Một trong những lý do là vì các mục tiêu của họ không cụ thể nên công chúng thấy không cần phải chính thức gia nhập, hay ít ra là không cần phải tích cực tham gia, mà vẫn được hưởng lợi ích. Tuy nhiên những nhóm này đã dùng kỹ năng và các nỗ lực thâu thập thông tin của mình để nêu ra các vấn đề mà các nhóm khác không nêu ra. Lúc đầu đa số các nhóm lợi ích thường có khuynh hướng thiên tả. Tuy nhiên những năm gần đây các nhóm bảo thủ cũng đã lập những nhóm riêng của mình, phần lớn là để đối phó với các chuyển biến mà họ cho là quá cấp tiến trong chính sách công vào những năm 1960 và 1970. Đi hàng đầu trong những nhóm lợi ích công cộng thuộc loại này là các đoàn thể như Hiệp hội Toàn quốc những Người Đóng thuế (National Taxpayer’s Union) và Hội của những Phụ nữ có những Quan tâm (Concerned Women for America). Các tổ chức tham mưu (think tank) bảo thủ như Quỹ Di sản (Heritage Foundation) cũng có thể hoạt động như những nhóm lợi ích vì các công trình nghiên cứu của họ thường hỗ trợ cho quan điểm bảo thủ của họ. Đối với phe tự do thì có lẽ Viện Đô thị (Urban Institute) cũng có vai trò tương đương.

Các nhóm lợi ích trong nước này cũng giống như các tổ chức phi chính phủ (Non-Governmental Organizations, NGOs) đã xuất hiện trên địa bàn quốc tế từ những năm 1980. Thực vậy, một số đoàn thể Mỹ có quan hệ mật thiết với các NGO quốc tế. Đối với các đoàn thể quốc tế cũng như quốc nội, hậu thuẫn của các đoàn thể này là các công dân quan tâm đến các vấn đề xã hội nói chung chứ không phải tới các lợi ích kinh tế trực tiếp.

Các giới hạn về sự hữu hiệu của các nhóm lợi ích

Qua các nhận định sơ lược trên, ta thấy trên chính trường Hoa kỳ có rất nhiều nhóm lợi ích khác nhau. Nhưng có nhiều tài liệu nghiên cứu cho thấy sự hữu hiệu trong việc phổ biến quan điểm của các nhóm này cũng khác nhau rất nhiều. Sự khác biệt đó xuất phát từ cách các nhóm đó huy động các nguồn tài nguyên chính trị chính của mình như số hội viên, mức độ hoạt động tích cực và lâu bền, tiền và thông tin.

Số lượng và sự gắn bó giữa các hội viên

Hợp lý ra thì ta có thể cho rằng các nhóm lợi ích có hậu thuẫn lớn trong dân chúng chắc phải có ảnh hưởng nhiều hơn. Các đại biểu dân cử tranh đấu cho các chính sách được đa số tán thành trong các cuộc thăm dò ý kiến vì họ muốn lôi kéo thêm các cử tri trong số các người này vào liên minh giúp họ thắng cử. Tuy nhiên có nhiều yếu tố khiến cho vấn đề này thêm phức tạp.

Quả thực là có hàng triệu người thuộc vào các nhóm lợi ích và có một số đoàn thể như hội Sierra Club bảo vệ môi sinh và AFL/CIO[3], tổ chức công đoàn, là các đoàn thể rất lớn. Tuy nhiên, nếu xét cho kỹ thì ta thấy rằng đa số các đoàn thể có tính cách quẩn chúng thực ra số hội viên ghi danh chỉ là một tỷ số rất nhỏ của những người tiềm ẩn ủng hộ cho họ nhưng không ghi danh là hội viên. Chẳng hạn, các cuộc thăm dò ý kiến cho thấy đa số dân Mỹ tán thành phải có luật về môi trường chặt chẽ hơn. Những người tán thành này tạo thành một khối hàng triệu người đứng sau các nhóm lợi ích về bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, đoàn thể bảo vệ môi trường lớn nhất cũng chỉ có dưới một triệu hội viên. Con số tương đối khá nhỏ này rất hợp với nguyên tắc tổng quát là số công dân tham gia các nhóm lợi ích chỉ là một phần rất nhỏ của dân số Hoa kỳ.

Nhà kinh tế đã quá cố Mancur Olson đưa ra một cách giải thích hợp lý nhất cho hiện tượng này. Ông lập luận rằng đứng về phương diện kinh tế thì việc một nhóm lợi ích đạt được thành tích là một “điều lợi ích chung.” Nghĩa là thành công của nhóm là điều lợi ích cho tất cả những người tán thành lập trường của nhóm, dù các người đó có thực sự tham gia nhóm hay không. Do đó nếu loài cá voi được cứu khỏi bị diệt chủng thì người ta cũng cảm thấy hài lòng dù người ta có đóng lệ phí gia nhập cho nhóm “cứu cá voi” hay không. Lẽ dĩ nhiên cũng đúng là nếu không ai đóng góp gì thì nhóm sẽ không thể tồn tại. Tuy nhiên, đối với những đoàn thể lớn thì sự đóng góp của mỗi hội viên mới gia nhập cũng chỉ có tính cách thêm thắt thôi. Do đó, dù nhóm có hàng ngàn người tham gia nhưng cũng có rất nhiều người khác không tham gia hay không hoàn toàn tham gia. Những người này trở thành những “người hưởng theo,” nghĩa là được hưởng lợi ích trong khi các người khác tích cực tham gia hay đóng góp.

Một vấn đề quan trọng nữa đối với các nhóm có tính cách quần chúng là làm sao khiến sự hậu thuẫn của các hội viên của mình trở thành các lá phiếu cho các ứng cử viên ủng hộ cho mục đích của nhóm. Bỏ phiếu là một hành động khá phức tạp bị chi phối bởi nhiều động cơ và ảnh hưởng khác nhau như cá tính của ứng viên, sự trung thành với đảng và một số các vấn đề khác. Các tài liệu nghiên cứu về bỏ phiếu cho thấy nhiều cử tri không biết hết về các quan điểm về chính sách của ứng viên mà họ bỏ phiếu ủng hộ. Do đó, các nhóm thường khó mà chứng minh được rằng các phiếu [bỏ cho ứng cử viên] của các người hậu thuẫn cho nhóm chính yếu là do các vấn đề do nhóm nêu ra. Nhóm nào có thể khiến cho các ứng viên tin là nhóm có khả năng huy động phiếu thì sẽ được các ứng viên nể vì. Chẳng hạn như Hiệp hội Quốc gia của các người dùng súng (National Rifle Association, NRA), chống luật kiểm soát dùng súng, đã thuyết phục các ứng viên vào quốc hội là các hội viên của họ sẽ không bỏ phiếu cho ứng viên chỉ vì vấn đề này. Vì vậy NRA đã có ảnh hưởng lớn không tương xứng với số hội viên của hội, mặc dầu phần lớn dân Mỹ đều ủng hộ luật kiểm soát súng chặt chẽ hơn.

Vì huy động một số hội viên quần chúng lớn là điều khó nên ta cũng không ngạc nhiên khi thấy các nhóm nhỏ hơn, chặt chẽ hơn và tranh đấu mạnh hơn thường có ảnh hưởng nhiều hơn so với số lượng hội viên nhỏ của họ. Thứ nhất là nhóm càng nhỏ thì sự đóng góp của mỗi hội viên lại có giá trị quan trọng hơn, do đó số người “hưởng theo” cũng ít đi. Thứ hai là, trước khi có trang mạng, liên lạc giữa các nhóm nhỏ dễ hơn và do đó dễ huy động hơn. Nếu các lợi điểm này của nhóm nhỏ lại được tăng cường bởi sự gắn bó giữa quyền lợi của nhóm với kết quả của việc thay đổi chính sách thì ngay cả một nhóm nhỏ có thể rất mạnh.

Tiền

Những năm gần đây tiền đã trở thành quan trọng hơn trong chính trị Hoa kỳ vì chi phí tranh cử leo thang. Các luật hiện tại giới hạn tiền đóng góp tranh cử có những kẽ hở còn các đại biểu dân cử của cả hai đảng lại ngần ngại không muốn ủng hộ sửa đổi hệ thống hiện hành vì sợ có thể tạo ra lợi thế cho đối thủ. Các nhóm lợi ích có nhiều ảnh hưởng nhất trong các cuộc tranh cử toàn quốc thường tự nguyện đóng góp cho các ứng viên tới hàng trăm ngàn đô-la.

Thêm vào đó, cũng cần có nhiều nguồn tài chánh để duy trì sự hiện diện của mình tại [thủ đô] Washington trong thời gian không có bầu cử. Một đoàn thể cần có nhân viên chuyên môn để ảnh hưởng tới các dự thảo luật liên hệ tới quyền lợi của họ. Ngoài ra lại còn cần có nhân viên để phục vụ và liên lạc với các hội viên. Đoàn thể nào không luôn luôn có mặt ở Washington không thể nào vận động ngầm về các chi tiết của dự luật. Thành tích này là dấu hiệu chứng tỏ sự thành công của một nhóm lợi ích.

Tiền cũng liên quan mật thiết tới những yếu tố như số lượng và sự gắn bó của hội viên. Để đối phó với vấn đề các người hưởng theo thì các đoàn thể phải thu hút được các người gọi là “kinh doanh chính sách” – tức là các người muốn được hưởng lợi về vật chất, nghề nghiệp hay ý thức hệ qua việc tổ chức một đoàn thể thành công. Muốn làm như vậy thì hội viên tiềm ẩn của đoàn thể phải có tài nguyên dư để làm cơ sở tổ chức có nhiều hứa hẹn. Nhu cầu cần có tiền dư này tạo ra mức tối thiểu về nguồn thu mà nếu ở dưới mức tối thiểu đó thì những nhóm tiềm ẩn khó có thể lập lên được. Vì lý do này, tương đối có rất ít nhóm trực tiếp đại diện cho người nghèo.

Tuy nhiên, trên mức tối thiểu này thì vai trò của tài nguyên trở nên phức tạp hơn. Theo sự suy luận bình thường ta có thể nói rằng một đoàn thể có một triệu hội viên, mỗi người đóng $5 thì cũng có thể quyên được 5 triệu đô-la như một đoàn thể có 10 ngàn hội viên mà mỗi người đóng $500. Nhưng chỉ khi nào ta kể đến vấn đề người “hưởng theo,” thêm vào đó là chi phí nhiều cần cho một đoàn thể có nhiều hội viên thì lúc bấy giờ mới thấy rõ các bất lợi của một đoàn thể lớn.

Một yếu tố khác ảnh hưởng tới sự huy động tài nguyên của một đoàn thể là hội viên của đoàn thể đó gồm các cá nhân hay các tổ chức khác. Nhiều nhóm lợi ích có thế lực thực ra là một tập hợp của nhiều tổ chức. Các tổ chức này bao gồm hội các ngành nghề, hội chuyên nghiệp và hội đại diện cho các cơ quan công và tổ chức không vụ lợi cung cấp các dịch vụ. Một đoàn thể gồm nhiều đoàn thể khác không cần phải liên lạc với nhiều thành viên nhưng vẫn có thể nhận là mình đại diện cho hàng ngàn người liên hệ với các thành viên đó. Hơn nữa các thành viên cũng có thể sử dụng những tài nguyên sẵn có của tổ chức, thay vì là bỏ tiền riêng của mình, để hỗ trợ cho đoàn thể.

Thông tin

Ngoài sự tham gia của hội viên và tiền thì thông tin là nguồn tài nguyên mạnh mẽ nhất mà nhóm có được. Thông tin được trao đổi bằng nhiều cách. Trước hết, thông tin được chuyển từ các nhóm lợi ích tới những người làm quyết định. Các nhóm có kiến thức chuyên môn mà người làm luật không có. Ngược lại các nhóm rất muốn cho các nhà làm luật biết về những vấn đề mà nhóm quan tâm. Thực ra các thông tin họ cung cấp thường có khuynh hướng thiên lệch thuận lợi cho lợi ích của họ. Các nhà làm luật rất ý thức được sự thiên lệch đó nhưng có thể vẫn thấy là thông tin có ích lợi. Một trong những ưu thế có sự hiện diện thường xuyên tại Washington là có cơ hội cung cấp thông tin cho các nhà làm luật vào những điểm then chốt của diễn trình làm luật.

Điểm thứ hai là thông tin từ ngành lập pháp và hành pháp tới các nhóm lợi ích. Nhân viên của các nhóm lợi ích theo dõi các điều dự thảo trong luật và do đó biết lúc nào là lúc thuận lợi nhất để ảnh hưởng vào diễn trình làm luật. Các quan hệ không chính thức với nhân viên của Quốc hội cũng tạo cơ hội để được ra trình bầy trong các buổi điều trần và huy động các hội viên của nhóm vào lúc dự thảo luật sắp được đưa ra biểu quyết. Qua quá trình này các nhóm biết cơ quan nào, người nào có ảnh hưởng nhất và chiến lược nào tốt nhất để khiến họ hưởng ứng. Đôi khi các nhóm này lại còn có thể [vận động] sửa lại chi tiết văn bản trong dự luật của Quốc hội làm thay đổi cả ảnh hưởng của luật.

Sau hết các nhóm lợi ích trao đổi thông tin với các hội viên và các người khác. Nhóm có thể tiến hành một cuộc điều tra hay thuê làm một cuộc nghiên cứu để vấn đề gây ấn tượng mạnh hơn. Nếu họ lôi kéo được sự chú ý của giới truyền thông thì các nhà làm luật bị áp lực bắt buộc phải đáp ứng. Các nhóm cũng yêu cầu hội viên cung cấp thông tin và thông báo cho hội viên về các quyết định sắp được đưa ra. Phần nhiều khi luật đang được dự thảo, chỉ có một số ít công dân tiếp xúc với đại diện dân cử của họ. Do đó, nếu nhóm có thể phát động hội viên gửi một lúc tới 200 cái thư [cho các dân biểu] thì ảnh hưởng sẽ mạnh chẳng khác gì một cơn bão thư [thỉnh nguyện].

Sự phát triển nhanh của mạng lưới trong 5 năm vừa qua đã làm giảm chi phí liên lạc cho một số lớn dân chúng. Đa số các nhóm lợi ích đều có trang mạng và họ đều dùng điện thư để liên lạc với các hội viên và các hội viên cũng dùng điện thư để liên lạc với những người có quyền quyết định. Tuy nhiên các phương tiện này còn mới nên các nhóm hãy còn trong giai đoạn học cách sử dụng chúng thật hữu hiệu. Do đó còn quá sớm để có thể xác định là các phương tiện đó ảnh hưởng nhiều hay ít trong việc giúp các nhóm lợi ích gây ảnh hưởng.

Một thí dụ mới đây về ảnh hưởng đó là việc dùng một số trang mạng của phe bảo thủ để phổ biến các thông tin bất lợi về nguyên tổng thống Bill Clinton, trong số đó có những thông tin chính xác nhưng cũng có những điều bịa đặt và bóp méo trắng trợn. Sự kiện đó có lẽ cũng giúp đẩy mạnh áp lực đưa Clinton ra đàn hạch mặc dầu đa số dân Mỹ vẫn không muốn như vậy. Trừ phi có những thế lực kinh tế quan trọng tìm ra được một cách gì để giới hạn việc xử dụng mạng và khiến cho việc xử dụng tốn kém hơn thì phương tiện này có triển vọng sẽ dân chủ hóa việc đối thoại chính trị. Mặt khác, cũng có thể là mạng sẽ khiến cho nhân dân phân hóa ra thành những nhóm nhỏ liên lạc với nhau bằng phương tiện điện tử nhưng lại tự giam mình trong những thế giới quan ngày càng kỳ quặc.

Tiến tới việc thành lập các nhóm lợi ích công hữu hiệu hơn

Vì các lý do này mà người ta thích lập những nhóm nhỏ hơn, chặt chẽ hơn và có nguồn tài chánh tốt hơn thay vì là các nhóm đại diện cho một số lớn quần chúng. Các lợi ích riêng biệt thường cũng có thế hơn là các lợi ích chung chung mà người ta có thể gọi là lợi ích của dân chúng. Tuy nhiên, sự xuất hiện nhanh và nhiều của các nhóm lợi ích công trong những năm gần đây khiến cho hệ thống các nhóm lợi ích nói chung đại diện cho các ý kiến khác biệt của người dân Hoa kỳ. Các nhóm lợi ích công thường cũng đánh bại được các nhóm đối lập có tài chính dồi dào hơn. Nhưng nói cho cùng thì các đại diện dân cử đều biết rằng phải có tiền thì mới thắng phiếu. Nhiều khi các nhóm lợi ích quần chúng không đủ cho người ta tin cậy là sẽ vận động được phiếu của hội viên, ngược lại các hội doanh nghiệp và các công ty lớn thì luôn đáng tin cậy là họ sẽ bỏ ra tiền để cho ứng viên chi phí cho việc vận động trên truyền hình.

Một yếu tố quan trọng nhưng lại thiếu trong các nhóm lợi ích công là các nhóm này không thực sự là các tổ chức chính trị có tính cách quần chúng. Thường thì các nhóm này chỉ có một số nhân viên ít ỏi. Đứng đằng sau nhóm có hàng ngàn hội viên nhưng quan hệ của hội viên với nhóm chỉ giới hạn trong việc đôi khi đóng góp tài chánh cho hội. Cơ cấu này khác hẳn với các tổ chức chính trị có tính cách quần chúng trước kia trong đó các phong trào toàn quốc được xây dựng từ những tổ chức địa phương nhỏ gồm những hội viên thường xuyên gặp nhau. Ngoại trừ một số nhỏ các hội viên tích cực hoạt động, các hội viên của các nhóm ngày nay ít khi gặp nhau.

Mới đây các nhà quan sát xã hội Hoa kỳ càng ngày càng trở nên bận tâm vể sự tham gia ngày càng ít đi của dân chúng vào cộng đồng. Sự suy giảm này thể hiện ngay cả trong các tổ chức chính trị cũng như không chính trị. Có nhiều lý do được đưa ra để giải thích: truyền hình làm cho người ta ít ra ngoài; có người phải làm hai việc hay có gia đình chỉ có một gia trưởng thành ra người lớn ít có thì giờ rảnh rỗi; thêm vào đó người ta hoài nghi các chiến dịch trong đó hệ thống truyền thông giữ vai trò chủ chốt nhắm vào các cá nhân hay các vụ tai tiếng thay vì là tập trung vào các vấn đề có ý nghĩa.

Dù vì lý do nào chăng nữa, nếu một nhóm lợi ích có thể huy động hữu hiệu dân chúng qua các chi hội quần chúng địa phương thì nhóm đó sẽ có một thế chính trị rất mạnh. Nhóm sẽ có một cơ sở hội viên vững chắc để liên lạc một cách ít tốn kém qua các nguồn truyền tin đã có sẵn. Bằng cách phối hợp cả vận động trên bình diện toàn quốc lẫn tiếp xúc trực tiếp với ứng viên và các viên chức ở địa phương, nhóm có thể lập luận một cách rất thuyết phục là hội viên của nhóm sẽ bỏ phiếu căn cứ trên các vấn đề nhóm đưa ra. Như vậy nhóm sẽ thực sự là một phong trào quần chúng chứ không phải là một nhóm nhỏ những người ưu tú được người ta bỏ tiền ra để tranh đấu.

Tuy nhiên lập được một nhóm như vậy cũng có những trở ngại rất lớn lao. Lúc đầu cần phải có nhiều tiền để hỗ trợ cho các cuộc vận động tổ chức nhóm tại địa phương. Nhóm cũng phải chế ngự được cái xu hướng tách rời vấn đề địa phương với vấn đề quốc gia trong xã hội Hoa kỳ. Sau hết, lại phải làm sao lôi kéo mọi người ra khỏi cái xu hướng chỉ chú trọng vào các vấn đề do các hệ thống truyền thông toàn quốc nêu ra mà sao lãng việc trực diện tiếp xúc với người ở cùng địa phương với mình.

Một dấu ấn chứng tỏ một xã hội thực sự dân chủ là xã hội phải khiến cho người dân tạo ra và huy động những phương thức hoạt động chính trị khác khi họ cho rằng các thế lực kinh tế hay nhân viên chính quyền đã vi phạm quyền lợi của họ. Theo nghĩa đó các nhóm lợi ích có tổ chức giữ một vai trò rất quan trọng. Các nhóm này giúp dân chúng huy động hữu hiệu hơn các nguồn tài nguyên của mình như: bỏ phiếu, tự do ngôn luận, tự do hội họp và áp dụng quá trình luật pháp.

© Học Viện Công Dân 2006

Tài liệu đọc thêm

Frank R. Baumgartner and Beth Leech, Lợi ích Cơ bản: vai trò quan trọng cùa các nhóm trong chính trị và khoa học chính trị [Basic Interests: The Importance of Groups in Politics and Political Science] (Princeton University Press, 1998)

Jeffrey Berry, Vận động cho dân chúng: cách hoạt động chính trị của các nhóm lợi ích [Lobbying for the People: The Political Behavior of Public Interest Groups] (Princeton University Press, 1977)

Allan J. Cigler and Burdett A. Loomis, Chính trị của các nhóm lợi ích [Interest Group Politics] (4th ed., Congressional Quarterly Press, 1995)

Michael T. Hayes, Các người vận động và các người làm luật: Một lý thuyết về Thị trường Chính trị [Lobbyists and Legislators: A Theory of Political Markets] (Rutgers University Press, 1981)

R. Allen Hays, Ai nói lên tiếng nói của dân nghèo? Các nhóm lợi ích toàn quốc và Chính sách Xã hội [ Who Speaks for the Poor? National Interest Groups and Social Policy] (Garland Press [forthcoming, 2001])

Charles Lindblom, Chính trị và Thị trường: Hệ thống Kinh tế Chính trị Thế giới [Politics and Markets: The World's Political-Economic Systems] (Basic Books, 1977)

Mancur Olson, Luận về Hành động tập thể: Lợi ích chung và lý thuyết về các nhóm lợi ích [The Logic of Collective Action: Public Goods and the Theory of Groups] (Schocken Books, 1970)

Mark P. Petracca, ed. Chính trị của Lợi ích [The Politics of Interests] (Westview Press, 1992)


Sơ lược về tác giả

R. Allen Hays giám đốc của Chương trình Nghiên cứu sinh về Chính sách Công và là giáo sư khoa chính trị tại Đại học đường University of Northern Iowa. Cuốn sách của ông, Chính quyền Liên bang và Vấn đề Gia cư tại Đô thị (The Federal Government and Urban Housing) là tác phẩm được tham khảo nhiều nhất trong lãnh vực nghiên cứu về lịch sử chính sách gia cư. Mới đây các công trình nghiên cứu của ông đã mở rộng ra và bao gồm diễn trình hoạt động của các nhóm lợi ích trong việc hình thành chính sách gia cư. Tác phẩm Ai nói lên tiếng nói của dân nghèo? (Who Speaks for the Poor?), do Routledge xuất bản năm 2001, thu thập các tài liệu và so sánh hoạt động của các nhóm lợi ích trong ba lãnh vực chính sách xã hội của Mỹ là nhà ở, thực phẩm và trợ cấp tiền. Trước khi dạy học tại Đại học đường University of Northern Iowa, giáo sư Hays là một viên chức điều hành chương trình gia cư trong một chính quyền địa phương.

Nguyên bản: http://usinfo.state.gov/products/pubs/democracy/dmpaper9.htm

Ghi chú


[1] Các tiểu bang miền nam Hoa Kỳ thời đó còn ủng hộ chính sách phân biệt chủng tộc. (ghi chú của HVCD)

[2] Một vùng địa dư trong tiểu bang dưới sự quản lý của một chính quyền địa phương và là đơn vị cơ bản về hành chánh và chính trị trong một tiểu bang. Tại Mỹ có 3100 hạt (counties). (ghi chú của HVCD)

[3] American Federation of Labor and Congress of Industrial Organizations (Liên đoàn Lao động Hoa kỳ và Đại hội các Tổ chức Công nghiệp) [Ghi chú của HVCD]

Đăng bởi: quiet_volcano | Tháng Năm 9, 2009

Visit Malaysia once more

MW competence days in KL from 19th Apr 2009 to 25th Apr 2009

My friends in MUSEA

My friends in MUSEA

At observation deck of KL Tower

At observation deck of KL Tower

Đăng bởi: quiet_volcano | Tháng Năm 4, 2009

Multidimensional News and Other Perspectives

Bài viết cũ hơn »

Chuyên mục