Không có cái gọi là sở hữu toàn dân. Đó chỉ là một từ được “sáng tạo” ra để duy trì “quyền sở hữu thực” của một nhóm cá nhân. Xét thực tế đó cũng chẳng khác gì quyền của vua chúa xưa kia.

Sở hữu toàn dân: Sự “sáng tạo chết người”

Quyền sở hữu tài sản là một quyền căn bản trong các quyền con người. Quyền sở hữu và hệ thống thông tin về quyền sở hữu là vấn đề cốt lõi của mọi xã hội.

Có quyền sở hữu rạch ròi và có một hệ thống thông tin minh bạch về quyền sở hữu chính là bí ẩn của sự thành công của tất cả các nước đã phát triển và sự thiếu vắng một hệ thống như vậy là nguyên nhân chính của sự thất bại trong phát triển kinh tế-xã hội của tất cả phần còn lại nhiều nước trên thế giới. Đấy là thông điệp chính của cuốn sách nổi tiếng của học giả Peru, Hernando de Soto, cuốn “Sự bí ẩn của tư bản” được xuất bản năm 2000.

Tôi đã dịch cuốn sách ra tiếng Việt và bản dịch đã được gửi cho các nhà hoạch định chính sách với hy vọng giúp các nhà hoạch định chính sách và các đại biểu quốc hội có thông tin tham khảo trong quá trình thảo luận sửa đổi Luật đất đai. Đáng tiếc thông điệp của cuốn sách đã không có tác động gì đến Luật đất đai (sửa đổi) được thông qua năm 2003.

Năm 2006 Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia đã xuất bản cuốn sách đó với cái tên “sự bí ẩn của vốn” và tiêu đề phụ “Vì sao chủ nghĩa tư bản thành công ở phương Tây và thất bại ở mọi nơi khác”, nhưng chỉ là “sách tham khảo nội bộ” không được phát hành rộng rãi qua hệ thống phát hành sách.

Quyền sở hữu có các tác dụng chủ yếu để: (1) xác định tiềm năng kinh tế của tài sản, (2) tích hợp thông tin tản mác (về các tài sản) vào một hệ thống, (3) khiến dân chúng có trách nhiện, (4) làm cho các tài sản có thể chuyển đổi, (5) kết nối dân chúng và (6) bảo vệ các giao dịch.

Chính việc xóa bỏ hệ thống quyền sở hữu (tư nhân) là một nguyên nhân chính của sự thất bại của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Việt Nam đạt được một số thành tích về phát triển kinh tế trong hơn 20 năm đổi mới chủ yếu là do đã phần nào khôi phục lại quyền sở hữu tư nhân và khôi phục lại hệ thống quyền sở hữu. Đáng tiếc, chúng ta chưa thật triệt để trong vấn đề này và vẫn còn bị vương vấn bởi những giáo điều đã tỏ ra hoàn toàn vô dụng.
Quyền sở hữu toàn dân là một khái niệm kỳ quặc trong số những vương vấn như vậy. Đó là một sự “sáng tạo” chết người của những người được dân ủy thác. Không có cái gọi là sở hữu toàn dân. Đó chỉ là một từ được “sáng tạo” ra để duy trì “quyền sở hữu thực” của một nhóm cá nhân. Xét thực tế đó cũng chẳng khác gì quyền của vua chúa xưa kia, nhưng chí ít vua còn công khai tuyên bố rằng là của ông ta và có quyền ban, phát cho các cận thần.

Rất đáng tiếc, chúng ta đã sao chép hay cũng góp phần “sáng tạo” ra những cái như thế và đã thực hành về cơ bản cũng chẳng khác mấy các vua ngày xưa (ngày nay còn có quá nhiều vua dưới một vua “tập thể”).

Không giải quyết rạch ròi vấn đề này khó có thể có sự phát triển lâu bền.

Chính thế, nên dễ hiểu là dư luận rất quan tâm đến vấn đề này khi Ts. Phạm Duy Nghĩa thay mặt một nhóm nghiên cứu đặt vấn đề bỏ khái niệm sở hữu toàn dân và thay bằng các khái niệm khác (như sở hữu quốc gia, sở hữu của chính quyền địa phương, sở hữu của một cộng đồng nào đó [của một họ, một làng chẳng hạn]), bên cạnh sở hữu tư nhân. Tôi đồng tình với cách đặt vấn đề của Ts. Phạm Duy Nghĩa.

Không phải mọi đất đai đều là “công thổ quốc gia”

Hãy chỉ xem về vấn đề sở hữu đất. Không thể coi tất cả đất trên lãnh thổ Việt Nam đều là “công thổ quốc gia” được. Nguyên từ “công thổ quốc gia” cũng chỉ rõ đất ấy thuộc sở hữu quốc gia. Phải rạch ròi, đất nào là công thổ quốc gia và các mảnh đất ấy (với đường biên, mô tả đặc điểm rõ ràng) phải được đăng ký (nói nôm na phải có sổ đỏ) với cơ quan quản lý. Đất của địa phương cũng vậy. Đó là đất công.

Đất của một cộng đồng hẹp được xác định rõ ràng (như của một dòng họ, của nhà chùa, của nhà thờ, v.v.) là thuộc phạm vi sở hữu tư hệt như sở hữu của một công ty hay của một cá nhân.

Đất đai chiếm trên nửa tổng tài sản của xã hội, nên vấn đề sở hữu đất phải được giải quyết thấu đáo và nhu cầu thừa nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai (của các cá nhân, các pháp nhân ngoài nhà nước) bên cạnh việc phân định rạch ròi đất công (thuộc quốc gia hay thuộc chính quyền địa phương) và, đi liền với nó, việc sửa đổi luật đất đai và các luật liên quan là nhu cầu cấp bách không thể né tránh.

Đối với các tài sản khác (nhà máy, doanh nghiệp vân vân) cũng vậy.

Nói cách khác, sở hữu công (thuộc cấp quốc gia hay cấp địa phương) và sở hữu tư phải được công nhận và phải được quản lý trong một hệ thống thống nhất và chỉ có người chủ sở hữu đích thực (dù là nhà nước trung ương, địa phương hay các tổ chức kinh tế xã hội tôn giáo hoặc các cá nhân) mới được quyền định đoạt. Không thể coi là “sở hữu toàn dân” và tùy tiện quyết định.

Chính sự không rạch ròi này là nguyên nhân của trên 98% của các vụ khiếu kiện trong thời gian vừa qua.

Đã đến lúc phải giải quyết tận gốc vấn đề sở hữu, nếu không tình hình khiếu kiện còn tiếp diễn và nhiều hơn có thể dẫn đến bất ổn xã hội trầm trọng và cản trở sự phát triển của đất nước.

NGUYỄN QUANG A – tuanvietnam.net

Đăng bởi: quiet_volcano | Tháng Chín 14, 2010

‘Sở hữu toàn dân’, cơ hội béo bở cho lợi ích nhóm

Trao đổi bên lề Diễn đàn Đối tác pháp luật về tăng cường tiếp cận công lý do UNDP tổ chức hôm qua (13/9), ông Nghĩa nói: 20 năm cải cách ở Việt Nam đã bảo hộ tương đối tốt sở hữu tư nhân, nhất là ở các đô thị. Tuy nhiên, những vấn đề khác cần thảo luận, chẳng hạn sở hữu toàn dân với đất đai cần thảo luận từ khía cạnh việc bảo vệ quyền lợi mong manh của người nông dân trước các thế lực nhòm ngó.

PGS.TS Phạm Duy Nghĩa, khoa Luật & chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, ĐH Kinh tế TP.HCM
Thứ hai, sở hữu công cộng bao gồm bờ biển, hầm mỏ, không khí công cộng, là tài sản quốc gia để lại nhưng hiện nay đang được khoanh vùng tư nhân hóa rất nhanh.
Lĩnh vực thứ ba là sở hữu các tập đoàn nhà nước, hiện cũng đang là vấn đề.

Như chúng tôi kiến nghị nhiều lần, phải có khái niệm tốt hơn khái niệm sở hữu toàn dân, chúng tôi muốn chuyển đổi khái niệm sở hữu toàn dân thành sở hữu của chính quyền, của quốc gia, chia hai cấp: chính quyền TƯ và chính quyền địa phương.

Tư hữu hóa

Lý do vì sao, thưa ông?

- Sở hữu toàn dân là một khái niệm chính trị, khi triển khai vào các khái niệm pháp lý, không xác định ai có chủ quyền thực sự.

Khái niệm chính trị đó không có hại thì không sao. Nhưng dưới cái mũ sở hữu toàn dân nó, đã gây ra nhiều bất công, làm cho tài sản rơi vào tay những người có ảnh hưởng.

Điều bỏ ngỏ trên làm các tài nguyên khoáng sản, tài sản đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước, nhất là tập đoàn, không rõ ai là chủ sở hữu thực sự, tạo cơ hội cho khai thác lợi ích nhóm và tư nhân hóa tài sản quốc gia diễn ra trên diện rộng và khá nhanh, khi quyền lực được tản từ chính quyền Trung ương xuống các tập đoàn kinh tế và UBND các tỉnh.

Cơ chế bảo hộ sở hữu tư nhân chưa hiệu quả, chi phí tiền bạc và thời gian để thực quyền tài sản là lớn so với thu nhập của người dân. Chưa minh định rõ sở hữu công cộng với cơ sở hạ tầng.

Lợi ích của việc thay đổi quan niệm chính trị “sở hữu toàn dân” thành một quan niệm pháp lý rạch ròi hơn như ông nói là gì?

- Ở đây chúng tôi hướng đến khái niệm có thể dùng được để bảo vệ lợi ích quốc gia, để phúc lợi được chia công bằng. Nhà nước chỉ là một thành tố trong quốc gia.

Phân quyền rõ, tài sản gì thuộc chính quyền địa phương, tài sản gì thuốc quốc gia. Ví như bờ biển, rừng… là sở hữu quốc gia.

“Sở hữu quốc gia là một hình thức sở hữu công quan trọng, bao gồm vốn của quốc gia đầu tư vào các công ty thương mại và tổ chức cung cấp dịch vụ công, rừng, hầm mỏ, mặt nước và các nguồn tài nguyên khác. Điều 7 Hiến pháp cần được sửa lại để ghi nhận sở hữu quốc gia, sở hữu của chính quyền các tỉnh, huyện, xã”.
Khi đó, toàn bộ tài sản công sẽ thuộc một cơ quan quản lý công sản cụ thể. Một bộ, một sở không thể bán trụ sở của mình, không thể coi công sản là sở hữu của mình. Việc một sở tại địa phương mới đây tư nhân hóa trụ sở của mình là quá lạm quyền bởi sở chỉ là cơ quan giúp việc cho chính quyền địa phương. Chỉ có cơ quan quản lý công sản cấp tỉnh mới có quyền này.

Việc chuyển đổi như vậy sẽ giúp minh định rõ hơn trách nhiệm của Chính phủ với khối tài sản quốc gia. Nếu Chính phủ không quản lý được thì Quốc hội sẽ chất vấn. Càng không nên để cho Chính phủ có quá nhiều quyền trong việc quản lý, sử dụng tài sản quốc gia.

Nói cách khác, sở hữu toàn dân với cách quản lý của chính phủ, bộ, các ngành đã cho nhiều ông được chia những quyền đó.

Ví dụ, một bộ lại giao cho hai ông làm chủ tịch hai tập đoàn. Hai người đó có quyền biểu quyết khổng lồ với khối tài sản của hàng ngàn năm tích lũy như bờ biển hay hải đảo.

Đó là bi kịch đã diễn ra trong 5 năm vừa qua. Khối lượng công sản đã rơi vào tay tư nhân tăng lên khủng khiếp. Hiện tượng tư hữu hóa khắp nơi với quy mô lan rộng.

Còn đối với tổng công ty và tập đoàn thì sở hữu phải được tách khỏi chính phủ và các bộ.

Luật không bất biến

Nhưng khái niệm sở hữu toàn dân đã được nêu trong Hiến pháp. Để thay đổi thì phải sửa Hiến pháp?

- Luật sinh ra là để phục vụ con người. Luật không phải là những thứ bất biến. Nếu luật pháp không hợp với thời đại nữa thì phải sửa.

Nếu không sửa được Hiến pháp thì phải giải thích Hiến pháp, ban hành đạo luật cắt nghĩa Hiến pháp.

Nếu điều đó khó sửa quá thì đưa ra những công cụ thay thế, cho vào đó những linh hồn mới, rồi lại giải thích theo nghĩa khác. Cuộc cải cách kinh tế của Việt Nam ngay từ những năm 1988 – 1989 đã xuất hiện khu vực kinh tế tư nhân, nhưng có phải sửa Hiến pháp 1980 ngay đâu. Cho mãi đến 1992 mới sửa Hiến pháp.

Ông có thể dẫn chứng một ví dụ về việc chuyển từ sở hữu toàn dân sang sở hữu quốc gia là thế nào?

- Ví dụ một vị lãnh đạo được nhận quà. Khi xem đó là sở hữu quốc gia thì trong khi đương nhiệm, ông cứ treo món quà đó ở nhà mình. Nhưng khi hết nhiệm kỳ thì phải để lại món quà đó ở phòng lưu niệm. Tương tự với nhà công vụ. Khi tại chức thì ở, khi hết chức là phải trả lại.

Khi thảo luận về Luật đất đai sửa đổi, nhiều đại biểu Quốc hội cũng nói “quyền sở hữu toàn dân là một hư quyền” nhưng dường như chúng ta vẫn ngại thay đổi khái niệm này?

- Luật pháp phản ánh ý chí người cầm quyền, phản ánh nhận thức xã hội và sức ép của người dân lao động, những người mất đất, sức ép của những nhà tư tưởng muốn cải cách đất nước.

Nếu dân không hiểu, quan không có trách nhiệm, học giả không nghiên cứu thì không dám sửa.

Chúng ta cần những đối thoại giữa chính quyền và doanh nghiệp. Lắng nghe ý kiến từ cộng đồng doanh nghiệp và người dân. Chừng nào dân còn không hiểu biết và không nói, doanh nghiệp sống dựa vào lợi ích thừa thãi của doanh nghiệp nhà nước, thì chừng ấy chúng ta không cần sửa luật

Nhưng như ông quan sát, các nhóm lợi ích hiện đang tác động thế nào lên hoạch định chính sách?

- Khác với cách đây 10 năm, hiện nay các nhóm lợi ích không che giấu vai trò ngày càng tích cực của họ trong việc hoạch định chính sách. Các tập đoàn dễ dàng có cuộc gặp với Thủ tướng, với Chính phủ, thường xuyên tham gia đề xuất chính sách.

Do vậy, nhiều chuyên gia đánh giá, pháp luật kinh tế hiện nay dành lợi thế đầu tiên cho các cơ quan quản lý nhà nước, tiếp đến là các tập đoàn và doanh nhân. Những đối tượng khác luôn bị yếu thế.

Hiện nay đi mua một căn hộ thì người mua hoàn toàn không được đàm phán với chủ đầu tư về hợp đồng mua bán, phương thức thanh toán. Cuộc chơi luôn có lợi thế về người có tiền và có quyền lực.

Cái mà nhà nước cần làm là xây dựng những chính sách can thiệp có hiệu quả. Nhà nước tạo khuôn khổ pháp lý cho các đơn vị cạnh tranh lành mạnh. Nhà nước không nên bảo lãnh, đi vay vốn, làm thay doanh nghiệp.

“Minh bạch hóa quy hoạch đất, xác lập công bằng cho nông dân đối với đất nông nghiệp. Nhà nước chỉ thu hồi đất của nông dân vì mục đích công cộng (an ninh quốc phòng, giao thông). Trong tất cả các dự án có tính thương mại khác (chuyển đất nông nghiệp thành đất ở, kinh doanh, xây trường học, bệnh viện) thì chủ đầu tư phải thương lượng để mua lại quyền sử dụng đất của nông dân theo giá thỏa thuận”.

Lê Nhung – vietnamnet.vn

Đăng bởi: quiet_volcano | Tháng Sáu 25, 2010

Nhóm lợi ích ở ngay trước mắt!

(TBKTSG, Thứ Năm, 24/6/2010, 11:14 (GMT+7)) – Tuần trước nhiều báo đăng tin PetroVietnam (tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam) đã ký thỏa thuận hợp tác với Tổng cục Thuế. Một trong những nội dung của thỏa thuận này là hai bên sẽ phối hợp trong việc tham gia xây dựng, sửa đổi, bổ sung chính sách thuế, chính sách quản lý thuế, nhất là các văn bản pháp quy về thuế “tác động nhiều đến sản xuất kinh doanh” của PetroVietnam…

Chúng ta thường nói đến nhóm lợi ích và tác động của nhóm lợi ích lên chính sách. Thỏa thuận nói trên chính là một minh họa rất điển hình cho hiện tượng này. Xin nói ngay rằng bản thân khái niệm nhóm lợi ích không hàm ý tốt hay xấu, việc nhóm lợi ích tìm cách để tác động lên chính sách là chuyện khó tránh.

Tuy nhiên, thỏa thuận giữa Tổng cục Thuế và PetroVietnam là một hình thức “hợp tác” quá lộ liễu, chắc chắn sẽ bị các cơ quan chức năng “thổi còi”. Vai trò, chức năng của Tổng cục Thuế như một cơ quan nhà nước là phải giữ sự công tâm về quản lý thuế đối với mọi đối tượng phải đóng thuế, không thể có chuyện “hợp tác” với đối tượng chịu thuế này mà có khả năng gây thiệt hại đến đối tượng chịu thuế khác.

Hợp tác này còn lộ liễu ở chỗ nó ghi rõ PetroVietnam, thông qua Tổng cục Thuế, sẽ có tác động lên các cơ quan nhà nước khác như Chính phủ, bộ khi ra nghị định, thông tư hay cơ quan lập pháp như Quốc hội khi thông qua luật thuế mới hay sửa đổi, bổ sung luật thuế hiện hành sao cho có lợi đối với PetroVietnam.

Để dễ hình dung, thử tưởng tượng Tổng cục Thuế ký một văn bản như thế với một tập đoàn tư nhân hay ở Việt Nam có nhiều tập đoàn tương tự như PetroVietnam!

Ở những nước khác, các nhóm lợi ích thường vận động hành lang thông qua các quỹ, các viện nghiên cứu hay nói chung là các hình thức gián tiếp khác nhau.

Ví dụ một tập đoàn dầu khí có thể thành lập một quỹ nghiên cứu tác động của chính sách thuế lên hoạt động của họ và nhấn mạnh, chẳng hạn, khía cạnh đầu tư để bảo vệ môi trường trong khai thác dầu khí sẽ khác đi nếu chính sách thuế được điều chỉnh… Sau đó, quỹ này sẽ công bố nghiên cứu, có thể mời cơ quan hành thu thuế hay ủy ban nghiên cứu thuế, tham gia hội thảo… Họ cũng có thể dùng báo chí hay công luận để phổ biến nghiên cứu hòng tác động lên chính sách.

Các nhóm lợi ích khác, có thể có mối quan tâm ngược lại với tập đoàn dầu khí này, cũng sẽ tiến hành các bước tương tự nhưng ngược lại. Cuối cùng, sự cân bằng lợi ích của các nhóm khác nhau sẽ dẫn đến chính sách tương đối tốt nhất cho đa số và cho xã hội.

Chúng tôi tin rằng cơ quan chức năng sẽ hủy bỏ thỏa thuận nói trên giữa Tổng cục Thuế với PetroVietnam cũng như với các doanh nghiệp khác, nếu có trong tương lai.

Vấn đề là các nhóm lợi ích khác cũng đang có những “hợp tác” như thế, có thể tinh vi hơn. Minh bạch trong quá trình xây dựng chính sách, hỗ trợ các tổ chức dân sự để họ có thể nói lên tiếng nói đại diện cho lợi ích của người dân, nâng cao năng lực chuyên môn của đại biểu Quốc hội… là những biện pháp phải làm để đón đầu và hóa giải các nhóm lợi ích mang tính cục bộ hay không thật sự đại diện cho lợi ích của đất nước.

source: thesaigontimes.vn

Đăng bởi: quiet_volcano | Tháng Sáu 10, 2010

WB khuyến cáo nguy cơ ‘nhóm lợi ích’ của siêu dự án

Hôm nay (10/6), Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam (WB) ra một thông cáo báo chí nhằm “nói lại cho rõ” quan điểm của WB về dự án đường sắt cao tốc Bắc – Nam trong một cuộc họp báo gần đây và bị một tờ báo điện tử trích dẫn sai nội dung.

Nội dung mà WB cho là sai hoàn toàn đó là tờ báo điện tử này khi đó trích dẫn lời ông Martin Rama, chuyên gia kinh tế trưởng của WB cho rằng Việt Nam có thể “trèo cao ngã đau” đối với dự án đường sắt cao tốc Bắc – Nam cùng một số trích dẫn không đầy đủ khác.

Với phần trả lời có sự liên quan, so sánh với trường hợp của các nước khác khá thú vị của ông Martin Rama, VietNamNet giới thiệu bạn đọc câu trả lời này.

Quá lớn có thể đưa đến rủi ro

Câu hỏi của phóng viên đặt ra : “Tôi xin có một câu hỏi liên quan đến các siêu dự án, liệu các siêu dự án này sẽ làm tăng nợ công của Việt nam hay không và WB có khuyến cáo gì cho chính phủ Việt nam trong việc thực hiện những siêu dự án này. Một ý nữa liên quan đến dự án đường sắt cao tốc quốc gia Bắc – Nam hiện đang được thảo luận tại quốc hội hiện nay… Những dự án như thế này đòi hỏi số vốn lớn và thời gian hồi vốn lâu, vậy ông có đánh giá như thế nào về việc Việt nam dự định thực hiện dự án với số vốn lớn như vậy và nguồn vay chưa được rõ ràng?”.

Ông Martin Rama cho hay : “Chúng tôi không có ý kiến phản đối nào đối với dự án đường sắt cao tốc. Nếu bạn nhìn vào lịch sử của Ngân hàng Thế giới, một trong những nước vay tiền đầu tiên là Nhật Bản, giờ đây nước này là một nước công nghiệp. Ngân hàng Thế giới đã hỗ trợ vốn cho Nhật Bản xây dựng đường sắt cao tốc. Đó là một phần trong khoản vay của Ngân hàng Thế giới.

Ngày nay, Ngân hàng Thế giới cân nhắc đối với những dự án đường sắt cao tốc ở Brazil. Bây giờ, không dễ để nói rằng dự án đường sắt cao tốc ở Việt Nam là một ý kiến hay. Nhưng về nguyên tắc, không có gì phản đối điều này cả. Giống như các dự án khác, chính phủ nên cân nhắc giữa chi phí và lợi ích.

Trong trường hợp của Việt Nam, dự án Đường sắt cao tốc là một phần của chiến lược hướng về tương lai, như bạn nói, đó là siêu dự án. Và tôi nghĩ rằng khi chúng ta nói đến “cải cách kinh tế” thì đây là một trong những câu hỏi chính mà Việt Nam phải trả lời. Việt Nam có những suy nghĩ lớn, có lợi thế cũng như rủi ro. Việt Nam hiện đang tập trung vào các nhóm kinh tế, những nhóm này là các tổ chức lớn có thể đóng vai trò chính yếu. Tuy nhiên, khi bạn có cái gì quá lớn thì nó cũng đưa đến những rủi ro nhất định.
Nếu bạn nhìn vào cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nó bắt đầu bởi vì có những tổ chức tài chính “quá lớn để có thể thất bại”, và họ đã tận dụng ưu thế đó. Vì vậy, các tổ chức kinh tế lớn sẽ mang đến rủi ro khi họ đóng vai trò lớn. Khi đóng vai trò lớn, họ thường có nhiều quyền lực.

Vì vậy, nếu các tổ chức kinh tế lớn có vai trò mà ta gọi là “Vị thế nhà nước”: khi đó, họ sẽ có nhiều quyền lực đến độ có thể tạo ra ảnh hưởng cho những chính sách của chính phủ. Rồi sau đó, chính phủ có thể sẽ đứng về các nhóm lợi ích thay vì lợi ích của nhân dân. Các nước như Hàn Quốc đã lựa chọn cách đứng về các nhóm lợi ích, chaebols là ví dụ. Do vậy, cuộc khủng hoảng Châu Á là một phần của cuộc khủng hoảng để giải quyết các nhóm lợi ích như thế nào.

Những dự án “voi giấy” và hiệu quả kinh tế khó đoán định

Và đây là dự án đầu tư lớn. Chắc chắn Việt Nam cần rất nhiều cơ sở hạ tầng và các dự án lớn. Tuy nhiên không thể làm tất cả mọi thứ cùng một lúc và Việt Nam buộc phải lựa chọn. Tôi không phải chuyên gia trong lĩnh vực giao thông và rất khó đối với các nhà kinh tế để đánh giá với những dự án lớn kiểu này. Khi đường sắt cao tốc được xây dựng ở Châu Âu, việc này được thực hiện ở những nước đã phát triển. Bạn chỉ bổ sung thêm vài thứ ở bên lề mà thôi. Khi thực hiện siêu dự án ở Việt Nam, bạn sẽ chẳng biết được rõ chuyện gì sẽ xảy ra.

Hãy nhớ tới dự án lọc dầu Dung Quất. Dung Quất được coi là đà phát triển nhưng Dung Quất không phải là “địa điểm tốt” để đặt nhà máy lọc dầu. Nhà máy lọc dầu nên được đặt ở Bà Rịa – Vũng Tàu. Tuy nhiên, nhà máy lọc dầu vẫn được đặt ở Dung Quất bởi vì quyết định có mục đích rằng đây sẽ tạo ra một đòn bảy cho sự phát triển. Và với những điều như vậy, bạn sẽ chẳng bao giờ biết liệu đòn bảy có họat động hay không. Thật khó để có thể nói trước được.

Lịch sử phát triển kinh tế có đầy những dự án “voi giấy” của nỗ lực tạo ra tiền bạc ở khu vực xa xôi cũng với hy vọng các dự án đó sẽ tạo phát triển như ở khu vực nội địa. Một số trong các dự án này chẳng đi đến đâu cả. Các bạn hãy nhớ đến Yamousoukro ở Bờ Biển Ngà. Bạn chưa bao giờ nghe đến Yamousoukro như là một đòn bảy phát triển.

Một số các dự án lại có thể hoạt động tốt. Và thật khó để liên hệ đến trường hợp Việt Nam về các siêu dự án, chuyện gì sẽ xảy ra với các dự án này. Và Việt Nam vẫn chưa đạt được giao thông lý tưởng nếu chưa có nhiều tàu hơn và đường cao tốc hơn. Vì vậy, khó mà có thể nói chắc chắn rằng đây là khoản đầu tư tốt trong 20 năm nữa.

Tôi cho rằng Việt Nam vẫn có thể tiếp tục phát triển ngành đường sắt. Bởi vì Việt Nam là một đất nước luôn xảy ra tình trạng tắc đường, một nước đông dân cư .. nhưng điều này không có nghĩa là phát triển dự án đường sắt cao tốc và xe lửa chở khách. Hiện tại, có một vấn đề là một ngày có những 25 chuyến tàu chạy giữa Hà Nội – Hồ Chí Minh. Dùng đường sắt vận chuyển hàng hóa có thể là một ý kiến hay.

Vì vậy, có rất nhiều thứ cần làm với ngành đường sắt. Nhưng nhất thiết là đường sắt cao tốc không? Tôi không phải là một chuyên gia về giao thông … nhưng tôi rất muốn được xem một cuộc thảo luận trực tiếp của Quốc hội về vấn đề này. Tôi nghĩ đây là một dấu hiệu tốt để biết rằng mọi vấn đề được quyết định giải quyết như thế nào.

Bây giờ, điều này không có nghĩa là nếu Việt Nam tiếp tục dự án đường sắt cao tốc thì nay mai sẽ phải gánh chịu 56 tỷ đô la tiền nợ. Tôi không nghĩ điều đó sẽ xảy ra. Trong kế hoạch phát triển KTXH 5 năm và Đại hội Đảng phải ra quyết định và Bộ Tài chính cần phải thực hiện, là một chiến lược nợ nần. Nợ sẽ chiếm bao nhiêu % GDP? Đến điểm nào thì Việt Nam không nên vay nợ nữa? Dài hạn, ngắn hạn như thế nào? Các loại đồng tiền nào? Tất cả những điều này sẽ quyết định các chính sách.

Tôi đã được hỏi về tài chính, tuy nhiên một vấn đề tách biệt lại là chất lượng đầu tư. Nó trở thành một câu hỏi khó và một trong những điều này thì không dễ gì có được câu trả lời. Tại thời điểm hiện tại, Ngân hàng Thế giới không có dự định, kế hoạch nào liên quan đến dự án đường sắt cao tốc dưới bất kỳ hình thức nào. Dĩ nhiên là chúng tôi quan tâm.

Chúng tôi quan tâm vì đây là mối quan tâm chung đến sự phát triển của Việt Nam. Nhưng nói chung, chúng tôi không có kế hoạch gì với dự án đường sắt cao tốc. Chúng tôi quan tâm và có dự án liên quan đến các lĩnh vực giao thông khác như: dự án giao thông đa mô hình và dự án đường xá.
Source: vietnamnet.vn

Nguyên nhân khiến giáo dục đại học Việt Nam vẫn rất yếu kém có nhiều, nhưng một nguyên nhân cơ bản là đa số những người lãnh đạo các trường ĐH thiếu tầm nhìn xa, trông rộng, tư tưởng vụ lợi cá nhân và cục bộ chi phối các hoạt động GD.

Do vậy thực tế, trong những năm  qua, dù có tăng trưởng về con số sinh viên và các trường ĐH, nhưng chất lượng đào tạo lại giảm. Nhìn tổng thể, GDĐH Việt Nam đang bị “phá”, chưa được “xây”.

Ba yếu tố cần để có trường đại học tốt
Ba yếu tố cơ bản để hình thành nên một trường ĐH tốt được sắp xếp thứ tự như sau: 1- Con người (yếu tố có ý nghĩa quyết định), ở đây là đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý; 2- Cơ sở vật chất – kỹ thuật: Đất đai, giảng đường, ký túc xá, phòng thí nghiệm, máy móc, thiết bị, môi trường…; 3 – Nội dung chương trình giảng dạy.

Điều này rõ ràng và đơn giản vậy thôi, ấy thế mà rất nhiều người lãnh đạo các trường ĐH lại cho rằng, yếu tố quyết định là nội dung chương trình giảng dạy. Do quan niệm như vậy nên họ chỉ chăm chú đi tìm kiếm và bê nguyên các chương trình của nước ngoài về Việt Nam mà không quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ giảng viên và xây dựng cơ sở vật chất cho nhà trường.

Chương trình hay nhưng con người dở thì làm sao mà “tiêu hóa” được? Rồi không có cơ sở vật chất tối thiểu thì làm sao mà truyền đạt tới sinh viên được. Ví dụ, bây giờ ĐH Tổng hợp Moskva mang tên Lomonosov chuyển giao toàn bộ chương trình Vật lý cho ĐHQG Hà Nội; thử hỏi giảng viên của ta có đủ trình độ để giảng dạy hay không? Làm thí nghiệm ở đâu? …

Cũng không xem con người là yếu tố quyết định, nên đội ngũ giảng viên ĐH luôn luôn thiếu và yếu. Xẩy ra một hiện tượng đáng buồn và trái với truyền thống GD của cha ông: Những giảng viên giỏi bỏ nhà trường để gia nhập quan trường. Nhiều giáo sư- tiến sỹ, hiệu phó, hiệu trưởng vẫn thấy quan trường hấp dẫn hơn giảng đường, nên họ bỏ nghề dạy học.

Hiện tượng này diễn ra trong nhiều năm, ở nhiều nơi nên đội ngũ giảng viên thiếu hụt người tài. Nếu ai nghi ngờ điều này, chỉ cần xem xét một trường ĐH cụ thể là Trường ĐHKHXH và NV thuộc ĐHQGHN thì rõ.

Cũng vì không xem trọng yếu tố con người và cơ sở vật chất – kỹ thuật nên mới có nhiều trường ĐH được thành lập đến thế. Các trường ĐH cứ nghiễm nhiên ra đời, mặc dù không có những điều kiện tối thiểu là khoảng một chục phó giáo sư, dăm chục tiến sỹ, vài chục hecta đất,  vài trăm ngàn mét vuông nhà…

Còn nói về thiếu tầm nhìn xa, trông rộng thì các ví dụ vô cùng phong phú. Cho đến thời điểm này, không có một trường ĐH nào ở Thủ đô có diện tích đất đai xứng đáng là một trường ĐH!

Không xem trọng môi trường sư phạm và điều kiện hoạt động khoa học

Cách đây hơn 50 năm, những người thành lập Trường ĐH Bách khoa HN đã “cắm đất” cho trường hàng trăm hecta: Chiều dài từ đường Đại Cồ Việt đến Minh Khai; chiều rộng từ đường Giải Phóng đến Bạch Mai. Nay diện tích và không gian này bị phá nát bởi hàng ngàn hộ dân đã tràn vào sinh sống. Đất của ĐH Bách khoa HN hiện nay không còn nổi 1/10 so với quy hoạch ban đầu.

Các trường ĐH Xây dựng, ĐH Cảnh sát, Kỹ thuật quân sự… cũng đã từng có cơ ngơi hàng trăm hecta ở cách HN từ 30 – 50 km, nhưng lãnh đạo nhà trường đã bỏ những nơi rộng lớn đó để về “bó mình” trong vài hecta ở gần trung tâm Thủ đô. Với họ, điều quan trọng nhất là đi làm gần chứ họ đâu có quan tâm đến môi trường sư phạm và khoa học.

Nhưng khôi hài và khó hiểu nhất là Trường ĐH Luật HN. Trường này mới thành lập sau năm 1975; khi thành lập được “cắm đất” nhiều chục hecta tại huyện Thường Tín (chỉ cách trung tâm Thủ đô có 16 km). Không hiểu vì sao mà  nhà trường lại bỏ địa điểm  hoành tráng đó, về “thu mình” trên đường Nguyễn Chí Thanh với diện tích có quy mô ngang với một trường phổ thông.

Chúng ta không coi trọng môi trường và cảnh quan của các trường ĐH, trong khi đó, các nghiên cứu ở nước ngoài đã chỉ ra rằng, cảnh quan và môi trường sinh thái, môi trường khoa học tác động trúc tiếp đến việc chất lượng đào tạo sinh viên. Do vậy, các trường ĐH ở nước ngoài thường nằm ở ngoại ô, diện tích hàng trăm hecta, không khí yên tĩnh và trong lành. Có cán bộ của ta đi tham quan về, cho rằng các trường ĐH của nước ngoài toàn đưa lên miền núi!

Cũng có người nhìn ra tầm quan trọng của diện tích và vị trí đối với sự phát triển của trường ĐH. Chính vì lẽ đó mà khoảng 20 năm về trước, Chính phủ đã “cắm đất” cho ĐHQGHN hàng trăm hecta ở nơi phong cảnh hữu tình Hòa Lạc (cách HN khoảng trên 30 km). Cứ tưởng sau dăm năm ở nơi này sẽ xuất hiện một trường ĐH mang dáng dấp của một trường ngang tầm quốc tế. Ai ngờ, hơn 20 năm đã trôi qua, nơi đây cũng chỉ là vùng đất hoang!

Lãnh đạo nhà trường cho rằng, việc chuyển trường lên Hòa Lạc, bị nhiều giảng viên phản đối vì đi làm xa. Sự thực có đúng như vậy không, hay còn uẩn khúc gì khác mà không xây dựng ĐHQGHN cho đàng hoàng?

Từ những sự việc này, biết nói gì về những hiệu phó, hiệu trưởng, giảng viên các trường ĐH và tầm nhìn của họ? Họ là những trí thức lớn mà cũng chỉ quẩn quanh với cách nghĩ về sự thuận tiện và lợi ích nho nhỏ trước mắt, không nghĩ đến việc phải tạo dựng môi trường sư phạm và khoa học cho các trường ĐH họ có trách nhiệm thì làm gì GDĐH Việt Nam có chất lượng cao?

Hướng ngoại thái quá và thiếu cơ sở

Tôi luôn luôn ủng hộ việc hợp tác quốc tế trong GDĐH, nhưng sự hợp tác này phải được xây dựng và tiến hành trên cơ sở hiểu biết sâu sắc những gì mình muốn và những gì người nước ngoài có thể cung cấp. Việc thành lập nhiều trường ĐH quốc tế ở Việt Nam (báo chí đưa tin trong vòng 1 tháng, ở Huế thành lập 3 trường ĐH quốc tế) cũng không phải là giải pháp tốt để nâng cao chất lượng GDĐH.

Các nước có nền GDĐH tiên tiến, không muốn và nếu muốn cũng không thể “xuất khẩu” những gì tốt nhất của mình. Một giảng viên giỏi ở Mỹ được trả khoảng 200 USD/tiết, còn giảng viên bình thường chỉ khoảng 50 USD/tiết. Những người giỏi luôn luôn có việc làm, họ không muốn đi xa, hơn nữa nếu họ có đồng ý đi xa, đến các nước có thu nhập thấp; ở đó không thể trả công xứng đáng cho họ.

Trong chục năm trở lại đây, Việt Nam có xu hướng mở rộng “nhập khẩu” GD, và như vậy, chúng ta chỉ có thể “nhập khẩu” “hàng” loại 2, loại 3 mà thôi. Đại đa số các trường ĐH quốc tế ở Việt Nam có chất lượng vừa phải. Các trường 100% vốn nước ngoài được quản lý tốt, còn đỡ. Còn các trường mang danh “quốc tế” nhưng là của Việt Nam, hoặc liên doanh, liên kết thì phần lớn là yếu kém. Mấy năm trước, Trường ĐH Quốc tế thuộc ĐHQG t/p HCM tuyển sinh nhưng lại cho nợ đầu vào tiếng Anh. Tiếng Anh là công cụ để học tập lại cho nợ thì còn nói gì nữa?

Để có một nền GDĐH tốt

Như vậy, muốn nâng cao chất lượng GDĐH, trước hết phải có đội ngũ giảng viên giỏi. Để có một giảng viên giỏi, sau khi có bằng thạc sỹ, tiến sỹ, cũng phải cần từ 3- 5 năm. Do vậy, trước mắt, các trường ĐH nên mời những người có tri thức, có lòng nhiệt tình ở các viện nghiên cứu tham gia giảng dạy. Ngoài ra, cần có chính sách để thu hút người Việt Nam có trình độ ở nước ngoài trở về giảng dạy. Theo ước tính của tôi, ở Nga và các nước Đông Âu hiện nay có khoảng gần 2000 tiến sỹ. Đại bộ phận những người này sẵn sàng trở về, nếu được các trường ĐH nhận trở lại (họ từ các trường ra đi, nhưng không trở về đúng hạn).

Phải quan tâm đến môi trường và cảnh quan của các trường ĐH. Không nên để các trường ở những nơi quá chật và quá ồn. Cương quyết không cấp phép thành lập các trường ĐH nếu ở đó không có những điều kiện tối thiểu là mỗi ngành nghề đào tạo phải có 5 tiến sỹ, diện tích đất đai không dưới 20 hecta; phải có giảng đường rộng, có phòng thí nghiệm, thư viện…

Việc xây dựng những trường ĐH của Việt Nam mang tầm cỡ quốc tế là việc nên làm, nhưng trường đó phải bảo đảm các điều kiện: Nằm trên lãnh thổ Việt Nam, do người Việt Nam quản lý, ngôn ngữ chính là tiếng Việt. Nên chọn những trường có truyền thống và cơ sở vật chất đảm bảo (đất đai phải từ hàng trăm hecta trở lên) để nâng cấp lên. Còn làm từ con số không, rất khó và rất lâu.

Muốn GDĐH của ta có chất lượng, không có cách gì khác là hãy quan tâm đến quá trình xây dựng thực sự. Còn việc mở trường cũng như phá nát cảnh quan, môi trường sư phạm như vừa qua, thực chất là phá. Phải dừng việc “phá” lại để bắt đầu việc “xây”.

Hồ Bất Khuất

Source: tuanvietnam.net

Đăng bởi: quiet_volcano | Tháng Hai 26, 2010

Gót chân Asin của Trung Quốc

Trong cuộc phát triển có thể nói là nhanh như vũ bão chưa từng có ấy, Trung Quốc hiện đang đứng trước nhiều vấn đề, nhiều tồn tại lớn, không thể giải quyết trong một sớm một chiều, mà  nếu xử lý không tốt, hoặc khi khí hậu, tình hình quốc tế có những diễn biến đột xuất, có thể phát sinh những chuyện khó lường.

Những tồn tại, những vấn đề, những số liệu, những nhận định dưới đây đều lấy từ những tài liệu công khai của Trung Quốc hoặc của những tờ báo, hãng thông tấn nước ngoài có uy tín, nhằm giúp người đọc hiểu thêm “mặt trái” của Trung Quốc, một mặt mà trong thời gian qua vì nhiều lý do chúng ta đã không chú ý, hoặc không muốn, hay ngần ngại không đề cập tới.

Người viết hoàn toàn không có ý định hạ thấp hoặc nói xấu đối với người bạn lớn phương Bắc của chúng ta, người – mặc dù vẫn tự xưng là nước đang phát triển – nhưng thực ra đã là siêu cường thứ hai trên thế giới rồi.

Tuy vậy, cần thấy rằng dù đã là siêu cường thứ hai, nhưng không phải là  người khổng lồ đó không có gót chân Asin.

Người viết còn muốn nói thêm rằng, do cùng từ nền kinh tế kế hoạch tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (hay kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa), Trung Quốc lại tiến hành cải cách trước, nên một số việc làm chưa tốt hay tồn tại của họ, nếu biết nghiêm túc, khôn ngoan… rút kinh nghiệm thì có thể là những bài học có ích.

Báo cáo chính trị tại ĐH 17 Đảng Cộng sản Trung Quốc (15/10/2007) đã chỉ rõ các tồn tại cơ bản của Trung Quốc trong 30 năm cải cách, mở cửa, bao gồm: Trả giá quá lớn đối với tài nguyên, môi trường trong tăng trưởng kinh tế; Phát triển không cân đối giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền, giữa kinh tế và xã hội;(nông thôn phát triển tụt hậu); Phát triển ổn định nông nghiệp và duy trì tăng thu nhập cho nông dân ngày càng khó khăn hơn; Việc làm, bảo đảm xã  hội, giáo dục y tế, nhà ở, tư pháp, trị an xã hội v.v.. tồn tại khá nhiều vấn đề; Xa xỉ, lãng phí, tiêu cực tham nhũng vẫn khá nghiêm trọng; Xu thế mở rộng khoảng cách phân phối thu nhập (nhất là giữa thành thị  và nông thôn) về cơ bản vẫn chưa xoay chuyển được. Dân số nghèo ở thành thị và nông thôn, ngưòi thu nhập thấp vẫn còn một sô lượng tương đối lớn….

Còn có thể nhặt thêm một số tồn tại nữa trong báo cáo trên, nhưng có lẽ như vậy cũng đã tương đối đủ.

Trước hết phải nói rằng, những nhận xét đánh giá trên của TW Đảng Cộng sản Trung Quốc là tương đối chính xác, đúng mức và có phần “dũng cảm”, vì họ đã dùng đến những từ như “trả giá quá lớn…”, “phát triển tụt hậu”, “khá nghiêm trọng”, “cơ bản vẫn chưa xoay chuyển được”,”sức ép vẫn tồn tại lâu dài” v.v.. Nhưng nếu đi sâu vào vấn đề, sẽ thấy những nhận định đánh giá đó còn chưa cụ thể, chưa đủ độ sâu, chưa nói hết được những nguy cơ tiềm ẩn.

Dưới đây là những vấn đề cụ thể:

Ăn vào tài nguyên của con cháu

Để đáp ứng yêu cầu phát triển của các ngành công nghiệp, mỗi năm Trung Quốc cần một lượng nguyên vật liệu khổng lồ. Dù có dự trữ nhưng một số năng lượng, nguyên vật liệu thiết yếu đã có dấu hiệu cạn kiệt.

Từ năm 1993, Trung Quốc đã từ nước xuất khẩu dầu mỏ trở thành nuớc nhập khẩu dầu mỏ với số lượng ngày càng lớn. Năm 2004 nhập khẩu 120 triệu tấn, năm 2005 nhập khẩu 136 triệu tấn (trên tổng lượng tiêu thụ là 317 triệu tấn), năm 2006 nhập khẩu 145,18 triệu tấn, năm 2007 nhập gần 200 triệu tấn (trong khi dự kiến trước đó là đến năm 2010 mới phải nhập 160 triệu tấn). Lượng nhập khẩu dầu đã nhiều hơn lượng sản xuất trong nước và tốn một lượng ngoại tệ là 96,2 tỷ USD. Lượng tiêu dùng dầu mỏ của Trung Quốc đã đứng thứ hai trên thế giới (sau Mỹ, và đã vượt Nhật).

Khi một nước mỗi năm phải nhập khẩu trên 100 triệu tấn dầu là có nguy cơ về an ninh quốc gia, nếu thế giới hoặc khu vực nhập khẩu chính có sự kiện đột biến.

Hơn nữa, cần chú ý là 50% lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc đến từ Trung Đông, 25% từ châu Phi, 15% từ Đông Nam Á. 80% lượng dầu nhập khẩu đều phải qua eo biển Malacca (dễ bị người ta “phong toả” khi có chuyện) trong khi của Mỹ lượng dầu nhập khẩu có tới 3/4 là từ Canada, Mexico, Venezuela… (với Mỹ là an toàn trong vận chuyển hơn nhiều).

Ngoài ra 90% lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc phải vận chuyển bằng tầu chở dầu nước ngoài, và một tồn tại lớn là đến nay Trung Quốc hầu như chưa có kho chứa dầu dự trữ.

Cũng phải nói thêm, ở những nước tiên tiến như Nhật Bản, khi kinh tế tăng trưởng 100 điểm thì tiêu hao dầu mỏ mới tăng 10 điểm, trong khi của Trung Quốc là kinh tế tăng 100 điểm thì tiêu hao dầu mỏ phải tăng tới 80 điểm! Qua đó có thể thấy trong tương lai gần, lượng nhập dầu mỏ của Trung Quốc còn tăng hơn nữa.

Đứng trước mấy vấn đề: tìm cho được và bảo đảm nguồn cung cấp dầu mỏ cũng như bảo đảm đường vận chuyển, Trung Quốc đã chạy vạy khắp nơi tìm nguồn (Trung Đông, Châu Phi, Châu Mỹ Latinh..) ra sức đầu tư bằng mọi cách, nhiều khi bấp chấp áp lực chính trị (vấn đề Dafur ở Sudan, quan hệ với chính quyền quân sự Myanmar v.v..)

Trung Quốc cũng thiếu nhiều loại kim loại mầu. Qua việc thương nhân Trung Quốc săn lùng mua than, quặng kim loại các loại, một  số nguyên, vật liệu.. cũng như hăng hái tìm cách đầu tư vào lĩnh vực này ở nước ta càng thấy rõ thêm vấn đề.

Có người Trung Quốc đã cảm khái thốt lên: “chúng ta đã và đang ăn vào tài nguyên của đời con, đời cháu.”

Để giải quyết tình trạng khan hiếm, cạn kiệt năng lượng và tài nguyên, gần đây Trung Quốc đã tích cực điều chỉnh cơ cấu năng lượng, giảm bớt tỷ lệ than trong toàn bộ cơ cấu năng lượng, từ khoảng 65%-69% hiện nay xuống khoảng 54% vào năm 2020, điện hạt nhân từ 1% lên 9,1% .

Trung Quốc đẩy mạnh chiến lựoc ngoại giao năng lượng nhằm đảm bảo nguồn cung cấp dầu khí, từ mấy nước Trung Á, Nga trong thời gian tới.

Trả giá môi trường

Để có hiệu quả nhanh, tốn ít đầu tư, để chiều lòng khách đầu tư nước ngoài và vì nhiều nguyên khác nữa như sự thiếu hiểu biết, sự liều mạng, bất chấp v.v.. sau 30 năm cải cách mở cửa, tình trạng ô nhiễm của Trung Quốc đã đến độ cực kỳ nguy hiểm.

Không phải tự nhiên báo cáo chính trị ĐH 17 phải đề xuất xây dựng “văn minh sinh thái” và trong 5 “siêu bộ” được thành lập tháng 3 năm 2008 có “Bộ Môi trường”.

Số liệu chung nhất là  70% nước sông, hồ… và 90% nguồn nước ngầm của Trung Quốc đã bị ô nhiễm với mức độ khác nhau.

Nguồn nước ô nhiễm đã làm cho hơn 10% cây công nghiệp của Trung Quốc bị nhiễm kim loại nặng và các vật ô nhiễm khác. Ở một số nơi muối làm ra cũng bị ô nhiễm

Mỗi năm có khoảng 30 tỷ tấn nước ô nhiễm chưa trải qua xử lý đã thải ra sông, hồ. Ngoài ra còn có 24 tỷ tấn phế thải công nghiệp.

Bột Hải (được coi như nội hải của Trung Quốc) vì phải chứa các nguồn nước ô nhiễm và phế thải công nghiệp nên đang đứng trước nguy cơ sẽ là “biển chết” và nếu là “biển chết” thì phải mất 200 năm mới cứu được.

Thái Hồ (hồ nước ngọt lớn của Trung Quốc) đã bị ô nhiễm tới mức phải bỏ ra 15 tỷ USD trị lý trong 10 năm mới có thể trở lại như xưa (trong đó có việc phải đóng cửa hàng ngàn xí nghiệp nhỏ chưa giải quyết được vấn đề ô nhiễm như 772 xí nghiệp hoá chất, 125 nhà máy chế tạo accu, 76 nhà máy giấy v.v..) Việc Thủ tướng Ôn Gia Bảo phải đứng ra chủ trì một cuộc họp chuyên giải quyết vấn đề ô nhiễm ở đây cho thấy tình trạng nghiêm trọng của vấn đề).

70% năng lượng của Trung Quốc là than (mỗi năm dùng tới trên 3000 triệu tấn) cộng thêm khói bụi của hàng vạn nhà máy (chưa qua xử lý), của hàng trăm triệu chiếc ôtô, xe có động cơ… đã làm cho Trung Quốc trở thành nước có lượng khí thải CO2 lớn nhất thế giới, gây hiệu ứng nhà kính rất cao.

Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, mỗi năm Trung Quốc có khoảng 750.000 người chết vì ô nhiễm (chủ yếu là do ô nhiễm không khí) còn số người sau đó hàng mươi, hai mươi năm mới chết vì bị ung thư thì chưa tính được.

60% dân số thành phố Trung Quốc chịu mức ô nhiễm không khí cao hơn 5 lần tiêu chuẩn của WHO.

Cái giá phải trả cho ô nhiễm rất cao (năm 2003 cái giá phải trả cho ô nhiễm sức khoẻ vào khoảng 6% GDP).

Số rác thải của Trung Quốc hàng năm của Trung Quốc đã gia tăng với tốc độ trên 10%/năm cao hơn số trung bình cao nhất thế giới 1,5%. Tổng lượng rác thải trong các thành phố của Trung Quốc hàng năm đã gần tới 150 triệu tấn.

Trung Quốc được coi là đất nước bị rác rưởi bao vây nghiêm trọng nhất thế giới. Trong hơn 600 đô thị lớn nhỏ của Trung Quốc thì 2/3 thành phố lớn bị rác rưỏi bao vây,1/4 thành phố không có bãi rác hợp lệ. Chỉ có 50% số rác thành phố là được xử lý (nguồn Đại kỷ nguyên ngày 19/7/2009)

Phải chăng, những thuyết minh cụ thể trên đã nói lên tương đối đầy đủ và sâu sắc thêm ý nghĩa của câu “phải trả giá quá lớn”?

Những tầng lớp bị bỏ bên lề

Trung Quốc tiến hành cải cách ở  nông thôn trước bằng việc thực hiện khoán sản lượng tới hộ. Do được làm chủ ruộng đất và tự vạch kế hoạch làm ăn… tính tích cực sản xuất của người nông dân nâng cao rõ rệt. Chỉ trong thời gian ngắn, đời sống đa số nông dân đã được cải thiện rõ rệt.

Nhưng từ năm 1984 khi Trung Quốc bắt đầu mở rộng cải cách ra thành phố thì hầu như trong suốt 14 năm sau đó (đến năm 1998) “người ta” đã quên nông dân- chữ dùng của một nhà nghiên cứu của Trung Quốc. Phải qua nhiều cuộc đấu tranh của nông dân (do mất ruộng đất, không kiếm đựoc việc làm…), của các nhà nghiên cứu, của một số người lãnh đạo Trung Quốc có tâm huyết v.v..

Mãi đến đầu thế kỷ 21, vấn đề nông dân mới được coi trọng và mấy năm gần đây đã và đang có những chính sách cụ thể nhằm giải quyết vấn đề “tam nông” (nông nghịêp, nông thôn, nông dân).

Để nói rõ thêm một tồn tại lớn nữa, người viết muốn nêu thêm một vấn đề: nông dân vào thành phố làm thuê. Trung Quốc hiện nay có từ 120 triệu đến 200 triệu nông dân vào thành phố làm thuê. Đây là một vấn đề rất lớn.

Nông dân, nông nghiệp Trung Quốc là nơi đóng góp nhiều nhất cho sự nghiệp công nghiệp hoá của Trung Quốc trong giai đoạn đầu, những khoản nợ Liên Xô trong thời kỳ đầu xây dựng nước (hơn 150 công trình) và những công trình công nghiệp nặng nhập khẩu thời kỳ giữa những năm 70 với một số nước tư bản (nhà máy gang thép Bảo Sơn, Khu công nghiệp hoá chất Đông Bắc v.v..) đều được trả chủ yếu bằng nông sản, nhưng người nông dân hầu như không đựoc hưởng lợi từ đó mà còn bị thiệt thòi do chênh lệch giá cánh kéo (giá nông sản phẩm một thời gian dài  thấp hơn giá thị trường nhiều lần…)

Theo tiêu chuẩn của Trung Quốc:  tiêu chuẩn nghèo tuyệt đối của một nông dân là thu nhập dưói 785 NDT/năm, thì năm 2007 còn có 14,79 triệu người (giảm 6,69 triệu người so với năm trước); còn nếu  theo tiêu chuẩn thu nhập thấp 786-1067NDT/năm thì có 28,41 triệu người. Tuy nhiên báo cáo của Ngân hàng châu Á mùa hè năm 2007 cho biết  có 300 triệu ngưòi Trung Quốc (chủ yếu là nông dân) có thu nhập dưới 1 USD/ngày.

Thu nhập của nông dân nói chung thấp đến nỗi người ta đã tính ra một học sinh nông dân học xong bốn năm đại học thì người cha phải nhịn ăn nhịn mặc 20 năm mới đủ tiền trả học phí. Đã có câu nói “học phí bức tử gia trưởng làm chết học sinh”.

Một nông dân vào thành phố làm thuê có vợ bị bệnh nặng chữa chạy không khỏi, đã phải ký một hợp đồng với bệnh viện cam kết trả nợ trong 3 đời – 106 năm (mỗi năm 5000NDT)!

Vì nghèo nên con em nông dân bỏ học ngày càng nhiều, nhiều em phải lâm vào cảnh mà báo chí Trung Quốc gọi là “nô công” (công nhân nô lệ) như một số trẻ em làm tại lò gạch tại một địa phương thuộc tỉnh Sơn Tây (mà báo chí Việt Nam đã đưa một phần). Số sinh viên đại học là con em nông dân cũng ngày một giảm.

Trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, số lượng nông dân Trung Quốc bị mất ruộng đất ngày một nhiều, tiền được đền bù lại quá thấp (theo tờ Nam phương đô thị báo của Quảng Đông thì một năm chính quyền các cấp đã “bán đất” được 900 tỷ NDT) nên sức chống đối trong nông dân ngày một cao, mỗi năm một tăng (từ bảy, tám vạn cuộc biểu tình đến trăm ngàn cuộc).

Đã có học giả Trung Quốc đề cập tới phải làm “cuộc cách mạng ruộng đất lần thứ ba” (lần thứ nhất là cải cái ruộng đất hồi mới giải phóng, lần thứ hai là khoán sản lượng tới hộ) nhằm trả lại quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân.v.v. Ngay trong thu nhập của nông dân cũng có sự chênh lệch giầu nghèo khá rõ, năm 2005, thu nhập của một nông dân thuộc thôn Hoa Tây tỉnh Giang Tô (thôn được coi là thu nhập cao nhất nước) là 18.820NDT, còn thu nhập của thôn Nam Nê Loan, tỉnh Thiểm Tây (được coi là thấp nhất nước) là 1526 NDT.

Có người đã chia thu nhập của nông dân Trung Quốc làm 3 loại: >5000NDT/người/năm là thuộc thế giới thứ nhất; từ 3000-5000NDT là thuộc thế giới thứ hai; <3000NDT là thuộc thế giới thứ ba.

Điều trớ trêu là ngay trong một điều luật của Trung Quốc đã chính thức thừa nhận sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị như đã qui định số tiền bồi thường thiệt hại do tai nạn giao thông theo mức sống của dân thành phố và nông dân. Theo điều luật này một nông dân bị chết vì tai nạn giao thông sẽ được đền bù ít hơn một cư dân thành phố bị chết vì tai nạn giao thông tới 12000NDT vào năm 2005 và vào năm 2006 đã là 15000 NDT vì mức sống của người dân thành thị mỗi năm một tăng cao hơn.

Một bài báo “chống đối” đề xuất 6 biện pháp để từ từ làm Trung Quốc sụp đổ đã nêu biện pháp thứ ba là  “làm cho nông nghiệp Trung Quốc sụp đổ” viết: Nông dân, nông nghiệp, nông thôn là ba cái chân của xã hội Trung Quốc. Nó đỡ ngôi lầu lớn xã hội Trung Quốc. Hãy để cho nông dân vẫn cứ 21 năm chẳng thu được gì, hãy để cho con em họ dần dần không đi học nổi, không vào đại học nổi, từ từ làm cho mâu thuẫn giữa thành thị và nông thôn ngày càng gay gắt, khi thời cơ chín muồi ba chân sụp đổ, Trung Hoa tất loạn, có thể nhân loạn mà  giành lấy.

Nên nhớ rằng khoảng 70% dân số Trung Quốc sống ở nông thôn, giải quyết vấn đề ăn no, mặc ấm, chữa bệnh, học hành cho mấy trăm triệu nông dân đang còn trong cảnh thiếu đói không phải là việc dễ, nói một câu là xong.

Tình trạng vùng miền cũng tương tự. Không nói cũng rõ, tại Trung Quốc, vùng ven biển (miền đông) phát triển nhất, vùng giữa (miền trung) phát triển chậm hơn và miền tây phát triển chậm nhất. GDP bình quân của vùng giầu nhất miền đông gấp gần 10 lần vùng nghèo nhất miền tây và hơn vùng miền trung 4 lần.

Chênh lệch giàu nghèo ngày càng lớn. Nếu như bảy, tám năm trước đây một người Trung Quốc có 100 triệu NDT (7,3NDT=1USD) đã được coi là người giàu nhất nước thì năm 2007 nếu có số tiền trên sợ rằng ngay đến xếp thứ 2000 cũng không nổi.

Có nguồn tin cho biết người giàu nhất Trung Quốc năm 2006 có 27 tỷ NDT, nhưng năm 2007 ai có số tiền như vậy chỉ đứng thứ 16 trong số những người giàu nhất nước, bởi vì người giàu nhất năm này đã có 130 tỷ NDT (gần 20 tỷ USD).

Có người nói Trung Quốc có 300.000 người có thể mua máy bay riêng, hoặc có 230.000 người có từ 1 triệu USD trở lên.

Một nguồn tin cho biết có tới trên chín phần mười người giàu Trung Quốc là con em cán bộ cấp cao trong đó có 29 người có tài sàn tổng cộng là hơn 2000 tỷ NDT.

Người ta có sự phân loại không thành văn các tầng lớp trong xã hội Trung Quốc sau gần 30 năm cải cách: quan chức lãnh đạo, công vụ viên, thương nhân, xí nghiệp gia, tầng lớp tri thức. Đáng thương nhất vẫn là tầng lớp nông dân, xếp hạng cuối cùng, còn giai cấp công nhân thì xếp thứ tám, chỉ đứng trên nông dân.

Tình trạng gíá cả gia tăng mạnh và lạm phát có xu hướng phi mã, càng làm cho đời sống những người thu nhập thấp thêm khó khăn.

Có ngườì bình luận xã hội Trung Quốc là “chính trị Triều Tiên hoá; kinh tế Mỹ latinh hoá; giá cả Âu, Mỹ hoá, tiền lương châu Phi hoá” hoặc” số lần và số người chết vì tai nạn hầm mỏ nhất thế giới, số trẻ em thất học và bỏ học lớn nhất thế giới, số quan chức chính quyền lợi dụng của công ăn chơi nhất thế giới” (Bức thư thứ 2 của Uông Triệu Vận).

Quan quyền, tiền quyền

Xã hội Trung Quốc hiện nay ngoài các giai cấp đã có,đã xuất hiện những tầng lớp mới như: nhóm người có thế mạnh (gồm những người nắm quyền lực trong tay, người giàu..) – nhóm người dễ bị tổn thương (nguời nghèo, người già không nơi nương tựa, người thất nghiệp…)

Trong nhóm người có thế mạnh ngoài “Thái tử đảng” cần chú ý tới sự xuất hiện của “tầng lớp mới” – nhóm người giàu bột phát trong nền kinh tế thị trường, xuất hiện trong xã hội Trung Quốc từ năm 2000, nhưng mãi đến năm 2002, mới được chính thức đề cập tới trong báo cáo chính trị tại ĐH 16 của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Họ có nguyện vọng mãnh liệt tham dự vào công việc chính trị và trong tương lai sẽ có ngày càng nhiều những người trong tầng lớp mới có quyền phát ngôn về công việc của quốc gia (trong hội nghị Chính Hiệp họp tháng 3 năm 2008 xuất hiện họ tên của hơn 100 ông/bà chủ xí nghiệp tư doanh và người làm nghề tự do và một đại biểu ĐH17 là tỷ phú).

Ở Trung Quốc hiện nay “quan quyền”, “quyền tiền giao dịch” đã là một số danh từ được sử dụng phổ biến. Tầng lớp “quan quyền” là những người thu được lợi ích lớn nhất trong toàn bộ cải cách mở cửa (cần hiểu là “quan quyền” không chỉ là người trực tiếp nắm quyền mà còn bao gồm cả vợ con, họ hàng thân thích cho đến bạn bè của họ,. “Quan quyền” không chỉ gồm quan chức cấp cao mà còn bao gồm các quan chức lớn nhỏ các cấp và con em, họ hàng, bạn bè của họ)

Một bài viết về 30 năm cải cách mở cửa của Trung Quốc đã tổng kết: “Quyền lực là công cụ và thủ đoạn có hiệu quả nhất để làm giàu nhanh chóng.”

Dù còn chưa công khai nói ra, nhưng ai cũng biết “Thái tử đảng” (gồm con em cán bộ cấp cao) là tập đoàn lợi ích có thế lực lớn nhất Trung Quốc hiện nay. Ngoài ra còn có các tập đoàn kinh tế, thương mại, khoa học kỹ thuật lớn.. có dây mơ rễ má với các quan chức đảng, chính, quân… và với các tập đoàn kinh tế nước ngoài đang ra sức vơ vét tài sản đất nước, bóc lột sức lao động của công nhân, tước đoạt ruộng đất của nông dân v.v.. Đã có cả tầng lớp xã hội đen đang ngấm ngầm hoạt động.

Xin đưa ra một số số liệu để cụ hoá tình hình bất công trong  thu nhập của tầng lớp có chức có quyền với những người dân bình thường:

Thu nhập bình quân đầu người của người dân Thâm Quyến là 32.650 NDT, nhưng của cán bộ cấp Vụ, Cục là từ 7 triệu đến 10 triệu NDT, của cán bộ cấp tỉnh là từ 8,5 triệu đến 12 triệu NDT. Điều này có nghĩa là tài sản trung bình của một cán bộ cấp Vụ, Cục ở Thâm Quyến gấp khoảng thu nhập trung bình trong 250 năm của một người dân, còn của cán bộ cấp tỉnh là 300 năm.

Vấn đề tham nhũng, hủ bại

Từ những số liệu về chênh lệch thu nhập giữa người dân và cán bộ các cấp có thể hình dung được nạn tham nhũng hối lộ ở Trung Quốc đã đến mức như thế nào.

Trong bức thư gửi sau khi thôi giữ chức Uỷ viên Thường vụ Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra kỷ luật của đảng, Ngô Quan Chính đã thừa nhận việc kiểm kê tài sản của cán bộ khi làm thí điểm ở Thượng Hải, Quảng Đông đều không dám công khai vì bọn họ rất giàu, nếu công bố sẽ bị quần chúng truy kích v.v..

Ngoài ra theo thống kê chưa đầy đủ từ năm 2003-2006 mỗi năm các cơ quan đảng chính dùng tiền công chi cho việc ăn chơi, giải trí dao động từ 300tỷ NDT-350tỷ NDT, mỗi năm thay mới và tăng thêm khoảng 500.000-650000 ôtô du lịch, tốn khoảng 200 tỷ NDT; tại một số sân Golf chi phí công chiếm tới 75%-90% v.v..

Trung Quốc coi hủ bại là nguy cơ ảnh hưởng đến sự tồn vong của đảng và chế độ, đã tích cực đề ra nhiều biện pháp nghiêm khắc để ngăn chặn.

Trong 5 năm qua (2003-2007) đã xử lý 35 cán bộ cấp tỉnh, bộ (trong đó UV Bộ Chính trị Trần Lương Vũ) và 930 cán bộ cấp vụ, cục về tội này (trước đó đã từng cho cha con UV Bộ Chính trị Trần Hy Đồng vào tù và xử bắn Phó Chủ tịch UBTV Quốc hội Thành Khắc Kiệt vì các tội danh tương tự) nhưng xem ra tình hình vẫn không sáng sủa hơn mà có xu thế mỗi ngày một tăng (những năm 80 chỉ có 2 cán bộ cấp tỉnh, bộ, những năm 90 con số này là 15 và từ 2000-2007 là hơn 70 người bị xử lý)

Tâm lý chống đối

Tâm lý bất mãn, bức xúc, chống đối trước những nghịch cảnh, trước những bất công của xã hội hoặc sự quản lý kém hiệu lực của chính quyền, sự tham nhũng của những người nắm quyền đã bắt đầu công khai bộc lộ và có xu thế ngày càng mạnh lên.

Ngoài sự đấu tranh phe phái không bao giờ hết trong đảng ra, trong nội bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc đã xuất hiện tầng lớp đảng viên chống lại đường lối cơ bản của đảng, đòi đẩy mạnh cải cách chính trị, đòi xây dựng cái gọi là “chủ nghĩa xã hội dân chủ” như mấy nước Bắc Âu… Trào lưu này bắt nguồn từ Hồ Diệu Bang và đặc biệt là Triệu Tử Dương, những người lãnh đạo cao nhất, công khai khởi xướng, không những không lụi tàn sau khi bị đàn áp mà  còn có xu thế phát triển.

Trong nhân dân, tình hình cũng tương tự. Ngoài những biểu tình, chống đối vì nguyên nhân kinh tế ra, những phản kháng chính trị (thư công khai, lên trên kêu oan, tố cáo v.v..) đã bắt đầu có những hoạt động có tính tổ chức (tuy lực lượng chống đối này còn nhỏ yếu, nhưng là hiện tượng mới xuất hiện)

Ngày 24 tháng 7 năm 2009, mấy vạn công nhân viên Công ty Gang thép Thông Hoá thuộc Tập đoàn Gang thép Thông Hoá Cát Lâm, doanh nghiệp quốc hữu do tỉnh quản lý do bất mãn trước việc doanh nghiệp tổ chức lại đã tụ tập khiếu nại, không chỉ làm cho nhà máy gang thép lớn có sản lượng 7 triệu tấn/năm này một dạo phải ngừng sản xuất mà còn bắt Trần Quốc Quân, ông chủ được Tập đoàn dân doanh Kiến Long tỉnh Hà Bắc do tăng cổ phần đầu tư mà đến nhà máy định nắm đại quyền, làm con tin, rồi đánh chết tại chỗ. Đây không phải là sự kiện có tính quần chúng bình thường. Ngày 25, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo được sự ủy nhiệm của Bộ Chính trị TW Đảng Cộng sản Trung Quốc đã phải tới tỉnh Cát Lâm thân tự chỉ đạo xử lý việc này.

Tâm lý chống đối còn ở những người chạy ra nước ngoài.

Những lực lượng chống đối này hiện nay chưa có sự móc nối với nhau rõ rệt, nhưng khi tình thế có sự thay đổi đột biến, họ rất có thể dễ dàng kết hợp trong ngoài nước, trong đảng và ngoài đảng trở thành lực lượng không thể xem thường.

Sức ép quốc tế

Nhìn chung thế giới khâm phục, kinh ngạc trước những thành tựu mà nhân dân Trung Quốc đã đạt được, nhưng đi kèm theo đó là nỗi lo ngại sự “lớn mạnh” của Trung Quốc.

Luận điểm “mối đe doạ Trung Quốc” không phải vô cớ được tung ra. Dù Trung Quốc đã từng sửa khẩu hiệu chiến lược của mình từ “Trung Quốc trỗi dậy” thành “Trung Quốc trỗi dậy hoà bình”, “phát triển hòa bình”, v.v.. nhưng phần đông các nước láng giềng và trong khu vực đều giữ thái độ cảnh giác, thận trọng trong cư xử với Trung Quốc.

Có người Trung Quốc đã cay đắng và cả hằn học nữa thốt lên: “dưới cái mũ lớn “thuyết Trung Quốc đe dọa” còn có nhiều thuyết “đe dọa nhỏ” nữa, nào là mối đe dọa của tỷ suất thấp của đồng NDT, mối đe doạ của an toàn thực phẩm Trung Quốc, mối đe doạ của việc môi trường Trung quốc xấu đi, mối đe doạ do nhu cầu năng lượng của Trung Quốc tăng nhanh, mối đe dọa do Trung Quốc tăng ngân sách quốc phòng v.v.

Trung Quốc ừa có chút khí thế trỗi dậy đã bị các cường quốc thế giới kéo nhau lại “tấn công”.

Trong kỳ họp Quốc hội tháng 3/2008, Trợ lý Bộ trưởng Bộ Thương mại Trung Quốc nói: “Áp lực bên ngoài mà nền kinh tế nước ta phải đối mặt rõ ràng lớn hơn các năm trước.”

Xin nói thêm: quan hệ Trung – Mỹ đã qua thời kỳ trăng mật. Quan hệ Trung – Nhật đã qua giai đoạn đầu tốt đẹp. Quan hệ Trung – Nga là quan hệ của hai đối thủ đã từng biết nhau khá rõ. Trung Quốc không có được đồng minh và láng giềng tốt theo đúng nghĩa.

Mặc dù Trung Quốc đã sửa tên gọi chiến lược phát triển của mình từ “Trung Quốc trỗi dậy” thành “trỗi dậy hòa bình” rồi xóa bỏ chữ “trỗi dậy” để chỉ còn là “phát triển hòa bình”. Mặc dù Trung Quốc đề ra phương châm với các nước xung quanh là “Láng giềng là hàng đầu”, và “làm bạn với láng giềng, hòa thuận với láng giềng, làm yên lòng láng giềng, giầu có cùng láng giềng”. Mặc dù Trung Quốc mấy năm gần đây đã tuyên bố “chủ quyền thuộc ta, gác tranh chấp, cùng khai thác, cùng hưởng lợi” trong quan hệ với các nước ở Biển Đông, nhưng người ta vẫn không hoàn toàn yên tâm, vừa quan hệ vừa cảnh giác. Bởi vì ai dám đoan chắc năm, ba năm tới (hay lâu hơn chút nữa), Trung Quốc sẽ làm gì? Ở đâu? Với ai? Mức độ thế nào? Qui mô đến đâu?…

—-

Viết về một số tồn tại lớn của Trung Quốc, không hề nhằm mục đích “bới lông tìm vết”, hay “nói xấu” người bạn lớn phương Bắc của chúng ta, mà chỉ muốn qua đó giới thiệu với những người có trách nhiệm của đất nước (cả đương nghiệm và người sẽ thay thế) ở Trung ương cũng như địa phương, tại các ngành cũng như các vùng, dù quyền cao chức trọng hay chỉ là những “thơ lại” thời đại mới, hy vọng họ nghiêm chỉnh rút ra được từ tình hình thực tế của Trung Quốc, những bài học bổ ích cho những suy tính, những quyết sách lớn nhỏ….

Biết nghiêm túc học tập những kinh nghiệm chưa thành công của người đi trước, chúng ta sẽ bớt phải trả giá (có khi là rất lớn và lâu dài.)

Nhưng nếu không thấy hoặc cố tình không thấy “vết xe của người đi trước”, thì cái giá phải trả không chỉ là của một số cá nhân mà sẽ là những người lao động chân chính, là đông đảo nhân dân, là cả dân tộc và những thế hệ tiếp theo.

—-

Tài liệu tham khảo chính:

- Báo cáo chính trị tại Đại hội 17 Đảng Cộng sản Trung Quốc (bản tiếng Trung lấy trên mạng của Tân Hoa xã)

- Báo cáo công tác của Chính phủ Trung Quốc tại kỳ họp Quốc hội tháng 3 năm 2008 (bản tiếng Trung lấy trên mạng của Tân Hoa xã)

- Thư công khai của Uông Triệu Vận, thường vụ Chính Hiệp tỉnh An huy Trung Quốc gửi Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo (bức thứ nhất và thứ hai)

- Một số bài báo của Trung Quốc đăng trên mạng từ ĐH 17 tới tháng 3 năm 2008,

- Một số bài viết chưa công bố của tác giả về vấn đề có liên quan.

Dương Danh Dy

Sourse: www.tuanvietnam.net

Từ luật khung, luật ống đến luật chi tiết, hạn chế tối đa những quy định chung chung cần phải hướng dẫn bằng các văn bản dưới luật – là cả chặng đường phấn đấu không mệt mỏi của cơ quan lập pháp. Một trật tự pháp lý bảo đảm tính tối thượng của luật đã dần được lập lại trong những năm gần đây. Tuy nhiên, với hai dự án Luật Thuế tài nguyên và Thuế nhà, đất vừa được trình UBTVQH cho ý kiến tại Phiên họp thứ Hai ba (2009) thì dường như các cơ quan soạn thảo lại đang muốn đi ngược xu thế tiến bộ này.

Dự thảo Luật Thuế tài nguyên và dự thảo Luật Thuế nhà đất, có lẽ là những dự luật ngắn nhất được trình UBTVQH trong thời gian gần đây. Dự thảo Luật Thuế tài nguyên chỉ có 12 Điều và dự thảo Luật Thuế nhà, đất cũng chỉ có 13 Điều. Song, ngay từ lần trình đầu tiên tại Phiên họp thứ Hai ba của UBTVQH, cả hai dự thảo Luật này đã chưa nhận được sự đồng thuận của hầu hết các Ủy viên UBTVQH. Chưa đồng thuận không chỉ vì những vấn đề lớn, những chính sách vĩ mô của hai dự án Luật chưa hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu lập pháp của cuộc sống mà còn vì cả hai dự thảo Luật đều có quá nhiều quy định khung. Chủ nhiệm UB Tài chính và Ngân sách Phùng Quốc Hiển thẳng thắn: Dự thảo Luật Thuế tài nguyên chưa thực sự bảo đảm tính cụ thể; số lượng các quy định giao Chính phủ hướng dẫn còn nhiều, thậm chí các quy định giao Chính phủ, các Bộ, ngành hướng dẫn của dự luật còn nhiều hơn so với Pháp lệnh Thuế tài nguyên hiện hành. Ngay cả nội dung chủ yếu nhất của một đạo luật về thuế là quy định thuế suất, dự thảo Luật cũng vẫn quy định dưới dạng khung với biên độ lớn và giao Chính phủ xác định mức thuế suất cụ thể.

Riêng với dự thảo Luật Thuế nhà, đất, trong 13 điều luật thì có tới 9 nội dung được hướng dẫn bởi các văn bản dưới luật của Chính phủ và các Bộ. Và cũng tương tự như dự Luật Thuế tài nguyên, những nội dung thiết yếu nhất đã không được cơ quan soạn thảo quy định cụ thể trong luật như: quy định về xác định tỷ lệ phần trăm trên đơn giá 1m2 nhà ở để xác định giá tính thuế nhà, hệ số phân bổ, diện tích đất để tính hệ số phân bổ đối với loại nhà chung cư… Theo Chủ nhiệm UB Kinh tế Hà Văn Hiền thì dường như vẫn có khuynh hướng cơ quan soạn thảo dành rất nhiều nội dung để hướng dẫn bằng các văn bản dưới luật, thậm chí có những quy định trong luật hiện hành đã rất rõ ràng nhưng dự luật mới lại vẫn đề nghị giao Chính phủ, các Bộ, ngành hướng dẫn thi hành.

Dành quyền cho các văn bản hướng dẫn thi hành luật, trên thực tế không phải là một khuynh hướng mới, nếu không muốn nói rằng, đó là khuynh hướng đã lạc hậu trong công tác lập pháp. Trước đây, do một số nguyên nhân khách quan, QH buộc phải chấp nhận ban hành những đạo luật khung, luật ống và giao quyền hướng dẫn cụ thể cho Chính phủ, các Bộ, ngành để bảo đảm có đủ khuôn khổ pháp lý cho việc điều chỉnh các quan hệ xã hội. Nhưng, thời gian gần đây, với những nỗ lực đổi mới trong quy trình lập pháp, QH đã hạn chế tối đa việc xuất xưởng các luật khung, luật ống, hạn chế tối đa những quy định phải giao lại cho Chính phủ, các Bộ, ngành hướng dẫn. Luật càng cụ thể bao nhiêu thì quá trình thực thi pháp luật càng minh bạch bấy nhiêu – tư duy lập pháp của cơ quan quyền lực nhà nước tối cao đã rõ ràng như thế. Và thực tế, cùng với sự quyết liệt của các cơ quan của QH và các ĐBQH, công tác lập pháp đã và đang vận hành theo đúng chiều hướng tích cực như thế. Tiếc rằng, khuynh hướng tưởng đã là lạc hậu, đã dần đi vào dĩ vãng đang quay trở lại – không phải chỉ với 2 dự thảo Luật về thuế nói trên mà như Chủ nhiệm Hà Văn Hiền chia sẻ, dự thảo Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi) mà UBTVQH sẽ cho ý kiến vào đầu tuần tới, do UB Kinh tế chủ trì thẩm tra cũng diễn ra tình trạng tương tự.

Điều đáng tiếc nữa là, những nội dung giao Chính phủ quy định của hai dự thảo Luật Thuế tài nguyên và dự thảo Luật Thuế nhà, đất thực chất không quá khó khăn, phức tạp và nhiều biến động – lý do thường được các cơ quan soạn thảo viện dẫn để biện minh cho việc thiết kế các điều luật khung. Theo Chủ nhiệm UB Về các vấn đề xã hội Trương Thị Mai, Chủ nhiệm UB Tài chính và Ngân sách Phùng Quốc Hiển, hoàn toàn có thể luật hóa cụ thể và chi tiết các mức thuế suất đối với từng loại tài nguyên (đối với dự Luật Thuế tài nguyên) và những vấn đề về thẩm quyền quyết định chính sách thuế, quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế (đối với dự Luật Thuế nhà, đất)…

Hệ lụy khó tránh khỏi của việc luật dành quá nhiều nội dung cho Chính phủ, các Bộ, ngành quy định là tình trạng lồng ghép, cài cắm các lợi ích cục bộ dẫn đến tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu minh bạch của hệ thống pháp luật. Hạn chế tối đa tình trạng luật khung, luật ống – không phải là mong muốn duy ý chí của cơ quan lập pháp mà là đòi hỏi của cuộc sống, là sự bảo đảm cho một hệ thống pháp luật gọn gàng, minh bạch và bảo đảm nguyên tắc tối thượng của luật. Khó có thể nói rằng, cơ quan soạn thảo dự án Luật Thuế tài nguyên và dự án Luật Thuế nhà, đất không thấu hiểu những nguyên tắc căn bản đó. Vấn đề là, các cơ quan chủ trì soạn thảo luật ứng xử với nguyên tắc đó như thế nào?

Đã đến lúc quyền lợi của đất nước, của nhân dân phải được hiểu đúng, được đặt lên trên quyền lợi của các nhóm lợi ích như QH đã hiểu, đã theo đuổi bấy lâu nay.

Phạm Thúy

Source: nguoidaibieu.com.vn

Đăng bởi: quiet_volcano | Tháng Hai 4, 2010

Pháp luật khung, ống, treo

Pháp luật Việt Nam hình khung, ống, treo, theo nghĩa chính sách, định hướng nhiều hơn quy định cụ thể. Vì thế, văn bản dưới luật nhiều. Văn bản dưới luật càng nhiều thì càng chồng chéo, TS Lê Xuân Bá, Viện phó Viện Quản lý Kinh tế Trung ương phân tích.

TS. Nguyễn Đình Cung cho biết, trung bình mỗi văn bản có gần 20 văn bản hướng dẫn thi hành. Cứ 1 trang văn bản luật liên quan đến đầu tư thì có tới hơn 8 trang hướng dẫn thi hành. Trong lĩnh vực đất đai, cứ 1 trang văn bản luật có 19,5 trang hướng dẫn; xây dựng có 12,5 trang; môi trường, đầu tư hơn 8 trang và DN hơn 1,5 trang.

Nếu xem Luật Đầu tư, Luật DN là hai điểm sáng của quy trình làm luật tại Việt Nam, nhưng cùng trong cơ chế làm luật đó, hiệu quả của hai luật khác nhau rất xa.

Nguyên nhân của sự khác biệt đó xuất phát từ thói quen làm chính sách trước khi làm luật tại Việt Nam. Luật đầu tư có bối rối trong làm chính sách trong khi chính sách đối với các loại hình DN trước khi Luật DN ra đời đã khá rõ ràng.

TS Huỳnh cho rằng, trong quá trình làm luật, cần có sự phản biện đông đảo của giới mà luật điều chỉnh, có cơ chế giải quyết nhanh nhạy những vấn đề phát sinh của Luật này…

Luật Đầu tư là điểm sáng tiếp cận thống nhất, nhưng vì “vừa làm thiết kế vừa làm xây dựng”, không thảo luận kĩ nên còn nhiều vấn đề trong Luật, điển hình là chuyện giấy chứng nhận đầu tư mỗi địa phương làm một kiểu. Điều này gây không ít khó khăn trong quá trình thực hiện luật.

Việt Nam có khoảng 200 Luật, 100 pháp lệnh, nhưng có 10 nghìn văn bản hướng dẫn. Sẽ không có vấn đề gì nhưng trong 10 nghìn văn bản, quy trình về minh bạch, công khai, chính sách không được tuân thủ như Luật.

Riêng với luật DN và Luật Đầu tư, theo kết quả tập hợp, rà soát và đánh giá của Tổ công tác thi hành Luật, tiến hành đối với khoảng 450 văn bản pháp luật quy định về gần 300 loại giấy phép, chứng nhận về các loại về tuân thủ điều kiện kinh doanh của DN, pháp luật Việt Nam có “9 không”.

9 không đó trong hệ thống quy định pháp luật của Việt Nam bao gồm: không đầy đủ, không rõ ràng, không cụ thể, không tương thích, không minh bạch, không tiên liệu trước được, không hợp lý, không hiệu quả và không hiệu lực.

Mỗi luật khi thi hành có quá nhiều văn bản hướng dẫn thi hành, và quá nửa số đó do các Bộ liên quan ban hành. Trong nhiều trường hợp, nội dung và tinh thần của luật bị biến dạng, biến tướng hoặc không thể hiện trong văn bản hướng dẫn thi hành; không thân thiện với đối tượng được điều chỉnh.

Điều này “tạo địa dư cho cán bộ, công chức có liên quan sách nhiễu, tham nhũng và hối lộ, có thể thi hành luật theo cách có lợi cho lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm hơn là phục vụ nhu cầu và lợi ích chung của xã hội”.

Với số lượng văn bản hướng dẫn quá lớn, chồng chéo, chi phí thực thi pháp luật cao, tạo dư địa phát sinh các nhóm trục lợi từ luật pháp và giảm hiệu quả luật.

Giữa các hướng dẫn liên quan đến một vấn đề có hiện tượng phân tán, chồng chéo, trùng lặp và mâu thuẫn, không rõ ràng, thống nhất, thậm chí trái ngược, mâu thuẫn nhau giữa các nội dung cơ bản. Thủ tục hành chính cũng phân tán, chồng chéo…

Những hiện tượng này không phải là cá biệt, riêng lẻ đối với quy định liên quan đến đầu tư mà cả hệ thống luật pháp về kinh doanh.

Hơn nữa, Việt Nam thiếu một tòa hợp hiến để đảm bảo pháp luật tuân thủ Hiến pháp khi Luật trái với hiến pháp. Tòa hành chính không đủ thẩm quyền giải quyết việc xóa các văn bản pháp luật không còn phù hợp. Luật cũng không có quy định bồi thường khi văn bản pháp luật xâm phạm lợi ích của người dân, DN. Cơ chế bảo vệ người dân trước những quy định pháp luật chưa được thiết lập.

Điều này khiến dân chúng thờ ơ với xây dựng luật, không hào hứng, hồ hởi, vồ vập đón luật ra đời. Người dân chỉ chờ khi nào có thông tư, công văn, chỉ thị mới quan tâm. Tâm lí này bao trùm cả công chức, dẫn đến không chủ động áp dụng luật khi luật mới đã ra đời“, ông Huỳnh nói.

Phương Loan

Source: Vietnamnet

Đăng bởi: quiet_volcano | Tháng Mười Một 19, 2009

Vì lợi ích cục bộ của hệ thống ngân hàng hay của ai?

Luật vị dân sinh chứ không vị luật

Dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước đã không đề cập đến “lãi suất cơ bản” và trong phiên thảo luận tại Quốc hội Thống đốc đã bị nhiều đại biểu chất vấn.

Bà phó chủ nhiệm Uỷ  ban Tư pháp của Quốc hội truy tới tấp: Uỷ ban của bà đã bốn lần bác bỏ những đề nghị của Ngân hàng Nhà nước về lãi suất cơ bản; nay Dự thảo lại cố tình bỏ đi.

Bà không thoả mãn với trả lời của Thống đốc và cho rằng Ngân hàng Nhà nước “đã trình hai dự án luật mà một trong những nội dung là đưa các tổ chức tín dụng thoát khỏi trần lãi suất cơ bản quy định trong Luật dân sự và có xu hướng của tự do hóa lãi suất huy động và lãi suất cho vay.

Người dân lo ngại nếu thực hiện các chính sách như vậy liệu tỷ giá đồng tiền có được giữ ổn định”. Không hiểu bà dựa vào điều tra xã hội học nào để khẳng định chắc nịch rằng “người dân lo ngại…” hay bà chỉ suy diễn vậy. Bà viện dẫn đến các Điều 467, 305, 436, 474, 576, 709 của Bộ luật dân sự, đến điều 163 của Bộ luật Hình sự.

Bà cho rằng “12 năm qua, bằng quy định về lãi suất cơ bản trong hệ thống pháp luật, Nhà nước đã thể hiện vai trò định hướng của mình trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội về cho vay vốn, để các quan hệ này diễn ra một cách trật tự, lành mạnh, ổn định cơ bản thị trường tiền tệ, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng cho vay lãi nặng, mang tính bóc lột”.

Bà còn gay gắt đặt câu hỏi rằng việc làm đó của Ngân hàng Nhà nước nhằm mục đích “bảo vệ cho lợi ích của ai, của Nhà nước, của nhân dân để ngăn chặn việc cho vay lãi nặng, ổn định thị trường tiền tệ, hay bảo vệ lợi ích cục bộ của các tổ chức tín dụng?

Hãy xem xét kỹ hơn một chút các ý kiến của bà phó Chủ nhiệm.

Thứ nhất, cần xác định dứt khoát rằng mục đích tối thượng của các luật là để phụng sự nhân dân, để phục vụ sự phát triển của đất nước, chứ không phải để phục vụ các cơ quan Nhà nước, càng không phải để phục vụ các luật khác. Luật vị dân sinh chứ không vị luật. Tôi hy vọng bà phó Chủ nhiệm Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội cũng thống nhất với quan điểm này.

Thứ hai, ai cũng biết các luật hiện hành của chúng ta còn rất nhiều quy định không sát với cuộc sống cần sửa đổi và cần sửa liên tục. Công việc chính của các vị dân biểu là làm việc đó. Vấn đề là làm thế nào. Nếu chỉ vin vào các điều luật hiện hành (có thể đã rất xa rời cuộc sống) mà không xem xét kỹ nhu cầu của cuộc sống thì cải cách pháp luật muôn đời dẫm chân tại chỗ. Bất cứ điều luật nào (kể cả của Hiến pháp) nếu không thoả mãn mục tiêu tối thượng nêu ở trên đều cần sửa đổi.

Bây giờ hãy quay lại với “lãi suất cơ bản” và “trần lãi suất”. Lãi suất cơ sở hay cơ bản (base rate) là lãi suất mà các ngân hàng thương mại lấy làm cơ sở để định ra lãi suất cho vay hay lãi suất tiền gửi của mình. Thường các ngân hàng dựa vào lãi suất chiết khấu hay lãi suất cho vay tối thiểu của ngân hàng trung ương (bank rate) làm cơ sở (tham chiếu chứ không bắt buộc).

Ngày nay trên thế giới lãi suất cơ sở không hoàn toàn dựa vào lãi suất của Ngân hàng trung ương nữa mà được xác định bởi quan hệ cung cầu vốn ngắn hạn được phản ánh qua lãi suất liên ngân hàng. Hiểu như thế thì thấy “lãi suất cơ bản” được quy định bởi khoản 12, điều 9 Luật Ngân hàng Nhà nước hiện hành – “lãi suất cơ bản là lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh” - là không chuẩn, không sát với cuộc sống.

Vấn đề không nằm ở lãi suất cơ bản

Thực ra, vấn đề rắc rối không phải là do lãi suất cơ bản mà là do quy định về trần lãi suất. Theo điều 476 của Bộ Luật Dân sự, mức trần này không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản và quy định này áp dụng cả cho các các tổ chức tín dụng.

Bất kể ai theo dõi hoạt động của hệ thống ngân hàng trong hơn chục năm qua đều thấy trần lãi suất như quy định hiện hành đã làm méo mó sự hoạt động của hệ thống, gây ra vô vàn khó khăn cho hoạt động ngân hàng và như thế thực sự đã cản trở sự phát triển của đất nước, chứ không “thể hiện vai trò định hướng của mình trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội về cho vay vốn, để các quan hệ này diễn ra một cách trật tự, lành mạnh, ổn định cơ bản thị trường tiền tệ, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng cho vay lãi nặng, mang tính bóc lột” như bà phó Chủ nhiệm khẳng định.

Để minh hoạ hãy lấy các số liệu của vài ngày qua. Lãi suất liên ngân hàng ngày 17-11-2009 là: lãi suất qua đêm 10%/năm; lãi suất kỳ hạn 2 tuần 10,8%/năm; lãi suất kỳ hạn dài hơn ở mức 11-12%/năm vượt xa trần lãi suất 10,5%/năm. Như thế lãi suất cơ sở của các ngân hàng thương mại (dựa vào lãi suất liên ngân hàng) vượt “lãi suất trần” và chẳng ăn nhập gì với “lãi suất cơ bản” theo luật định là 7%/năm cả.

Tình trạng này không chỉ bây giờ mới xảy ra mà đã xảy ra nhiều lần và kéo khá dài. Luật không sát với cuộc sống. Lãi suất huy động vốn hiện tại của các ngân hàng thương mại cũng khoảng 10%/năm. Để có thể hoạt động các ngân hàng phải cho vay với mức lãi suất 12-14%/năm. Nếu họ phải cho vay “theo quy định của luật” với lãi suất không quá 10,5%/năm thì toàn bộ hệ thống ngân hàng mau chóng phá sản vì thua lỗ.

Chính vì thế ngân hàng nào cũng phải tìm cách “lách” bằng phí hay các công cụ khác. Luật vô hình trung đã buộc toàn bộ hệ thống phải nói dối. Đấy là thực tế cuộc sống và chỉ ra cái lỗi lớn của những người làm luật.

Luật không sát cuộc sống, thì cuộc sống coi luật chẳng ra gì.  Đấy là một thực tế.

H. De Soto viết, “luật thịnh hành ngày nay ở phương Tây không đến từ các bộ sách phủ đầy bụi hoặc từ các sách luật chính thức của chính phủ. Nó là một thực thể sống, được sinh ra trong thế giới thực và được nuôi dưỡng bởi người dân bình thường khá lâu trước khi nó rơi vào tay của các luật sư chuyên nghiệp. Luật phải được khám phá ra trước khi nó có thể được hệ thống hoá.”

Ông trích dẫn nhà luật học Bruno Leoni,  “…luật là cái gì đó phải được phát hiện ra hơn là phải được ban hành và chẳng ai có uy quyền trong xã hội đến mức có thể đồng nhất hoá ý chí riêng của mình với luật của đất nước” (Sự bí ẩn của vốn, NXB Chính trị Quốc gia, tr. 192).

Việt Nam có bao nhiêu điều luật chẳng ăn nhập gì với cuộc sống? Hẳn là không ít, và quy định về lãi suất cơ bản và lãi suất trần là như vậy. Thế thì phải sửa các quy định đó, chứ không phải đi ra tay “xử các tổ chức vi phạm và làm bình ổn thị trường lãi suất” [thị trường lãi suất?] như đòi hỏi của bà phó Chủ nhiệm, vì nếu làm nghiêm theo lời khuyên của bà thì cả hệ thống sẽ sụp đổ. Hệ thống ngân hàng sụp đổ thì là tai hoạ cho nền kinh tế và cho nhân dân. Và xét cho cùng nếu làm thế là không vì dân mà vì ý chí riêng của ai đó. May là Ngân hàng Nhà nước đủ tỉnh táo để không nghe theo ý của bà.

Đúng là cần phải chống nạn cho vay nặng lãi. Song quy định hiện hành không chống được nạn cho vay nặng lãi. Bà phó Chủ nhiệm và các vị đại biểu Quốc hội hãy sát thực tế hơn và sẽ thấy ngay khẳng định của tôi là đúng. Có lẽ phải tìm các giải pháp khác sát thực tế hơn.

Nếu vẫn cứ muốn giữ lấy cái điều  467 của Bộ luật dân sự, thì tôi kiến nghị nên hành văn lại theo tinh thần thay “không quá 150% lãi suất cơ bản” bằng “không quá 200% lãi suất liên ngân hàng có cùng kỳ hạn hay có kỳ hạn gần nhất tương ứng” [ngưỡng 150% là quá thấp nên tôi kiến nghị 200% nếu không phải cao hơn, con số cụ thể có thể xác định trên cơ sở đo lường thực tiễn]. Chỉ cần thay như vậy là luật sát thực tế hơn và có thể giải toả được vô vàn khó khăn do chính bản thân luật mà các vị ban hành gây ra.

Mặt khác, cũng nên xem xét mức độ cho vay nặng lãi là bao nhiêu. Có thể tiến hành điều tra xã hội học để đo lường hay ước lượng. Liệu đã có điều tra nào như vậy để làm cơ sở cho các nhà làm luật. Tôi nghĩ là chưa.

Theo cảm nhận của tôi, nếu so với tổng tín dụng cỡ 1.300 ngàn tỷ đồng do hệ thống ngân hàng cung ứng cho nền kinh tế, thì tổng các khoản vay của người dân với nhau và được người dân coi là cho vay nặng lãi không thể quá 0,1% (một ngàn ba trăm tỷ). Nếu cảm nhận của tôi là đúng và xét đến tính bất khả thi của các chế tài đối với cho vay nặng lãi thì thực sự không cần mất quá nhiều công sức để bàn vấn đề này. Nên tìm cách khác để giải quyết vấn đề cho vay nặng lãi. Còn nếu suy nghĩ như bà phó Chủ nhiệm, thì theo tôi ít nhất 50% (tức khoảng 700 ngàn tỷ đồng) tín dụng là cho vay nặng lãi, xử lý nghiêm chắc chắn khiến hệ thống sụp đổ.

Độc giả có thể tự đánh giá giữa những người kiến nghị thay đổi quy định lãi suất cơ bản, lãi suất trần và những người khăng khăng muốn giữ chúng, thì ai vì dân và ai vì lợi ích cục bộ.

TS Nguyễn Quang A

Source: tuanvietnam.net

Đăng bởi: quiet_volcano | Tháng Mười Một 18, 2009

Nhóm lợi ích tại Trung Quốc

[Source: bauxitvn.net]

Một sự thực không ai chối cãi được là sau hơn 30 năm cải cách và mở cửa, Trung Quốc đại lục đã giàu mạnh vượt bực, nhưng trong các tầng lớp xã hội không phải ai cũng được hưởng lợi, đã xuất hiện cái gọi là “tầng lớp được lợi” (và như vậy tất nhiên sẽ có những tầng lớp, những nhóm người không được lợi hoặc được lợi ít). Khi đánh giá xem những ai, những nhóm người nào được hưởng lợi trong công cuộc cải cách mở cửa đó, các nhà nghiên cứu Trung Quốc có những ý kiến khác nhau. Có người gọi chung là “nhóm xứng đáng được hưởng lợi ích” nhưng cũng có người cho rằng gọi như vậy không chính xác vì trong cải cách và mở của đã xuất hiện “nhóm hưởng lợi ích xứng đáng” nhưng cũng đã xuất hiện “nhóm hưởng lợi ích không xứng đáng”. Cuối cùng, có người đã phân loại và gọi tên các nhóm người đó như sau: “nhóm lợi ích chính đáng”, “nhóm lợi ích cướp đoạt”, “nhóm lợi ích đặc biệt”.

Nhóm lợi ích cướp đoạt” là nhóm người thu được lợi ích dựa vào thủ đoạn phi pháp hay phạm tội để giành được đặc quyền phi pháp, do “quan hệ” hoặc “có chỗ dựa” (như có giấy phép xuất nhập khẩu, giao dich nội tuyến cổ phiếu, giành được đất giá rẻ, v.v.) mà tiến hành các hoạt động phi pháp hoặc phạm tội như buôn lậu, buôn bán ma túy, mại dâm, trốn lậu thuế, lừa gạt,dọa dẫm… Sở dĩ có tất cả những cái đó là do có “quan hệ vững chắc” và các loại nguyên nhân khác để trốn tránh mạng lưới pháp luật.

Đặc trưng của “nhóm lợi ích cướp đoạt” là do được sự bảo vệ của chế độ hiện hành và “mạng lưới quan hệ” nên những hoạt động phi pháp hoặc phạm tội của chúng không bị trừng phạt. Vì vậy “nhóm lợi ích cướp đoạt” rất muốn “duy trì hiện trạng” và là số người ra sức tẩy chay mọi cải cách dân chủ nhất. “Nhóm lợi ích cướp đoạt” phân bố rộng rãi trong, ngoài đảng, từ những người buôn bán trong dân gian đến nhân viên công vụ phổ thông tại tầng nấc cơ sở, đến tầng tầng, nấc nấc quan chức đảng chính, quân các cấp cho đến thường vụ Bộ Chính trị, trong đó lực lượng Bộ Chính trị là hùng mạnh nhất. “Nhóm lợi ích cướp đoạt” là sản phẩm song trùng của chế độ công hữu và chế độ chuyên chế – trong dân chúng, vào thời kỳ đầu của mở cửa khi đề xướng “cho phép một bộ phận người giàu lên trước”. Trước cải cách, Trung Quốc đại lục vẫn là chế độ công hữu, không tồn tại môi trường kinh doanh buôn bán theo chế độ tư hữu kiện toàn, có thể để cho người ta dùng thủ đoạn hoàn toàn hợp pháp kinh doanh buôn bán làm giàu, nhưng sau khi đã trải qua mười mấy năm cải cách, đến đầu những năm 90 của thế kỷ trước môi trường kinh doanh này mới hình thành và từng bước tạo ra một số vùng kinh tế phát triển. Trước đó, cái gọi là “kinh doanh buôn bán làm giàu” đều là “tích lũy tư bản nguyên thủy” không từ thủ đoạn nào; trong tầng lớp quyền lực, cũng giống như dân gian thiếu “môi trường kinh doanh buôn bán của chế độ tư hữu kiện toàn”, trong đảng cũng hoàn toàn chưa có chế độ “diệt trừ tham nhũng bằng lương cao, đề xướng liêm khiết”, sau này việc thi hành chế độ này không có hiệu quả, đã khiến quan chức các cấp có thể ngang nhiên “dùng quyền mưu lợi riêng” mà không bị trừng phạt (mà cũng chỉ nhờ có vậy mới có thể “giàu lên”).

Nhóm lợi ích đặc biệt là nhóm người mà quá trình bản thân họ thu được lợi ích không phạm pháp rõ ràng hoặc nghiêm trọng, nhưng cơ hội ban đầu để thu lợi thì không công bằng, ví dụ điển hình là tầng lớp “đảng thái tử” trong tầng lớp quan chức cao cấp trong đảng. Trong “đảng thái tử” chỉ có một ít người là một bước lên trời, phần lớn họ cũng đều trải qua sự rèn luyện từ tầng nấc thấp đến tầng nấc cao, có một số do không hủ bại hoặc ít hủ bại, thành tích cầm quyền xuất sắc mà còn được khá đông dân chúng hướng về. Tuy vậy, nhìn chung là do được bồi dưỡng từ tầng nấc này đến tầng nấc khác để lên tới địa vị cao, nên hầu hết họ thắng trong trong “bước chạy đầu tiên” – do là thân phận “thái tử đảng” mà có được thời cơ đặc biệt

Số phận “nhóm hưởng lợi ích đặc biệt” trong cải cách dân chủ là: nếu đảng cộng sản đổ, bọn họ sẽ mất quan vị, mất đi lợi ích hiện có, nhưng sẽ không bị thanh toán, bởi vì họ không hoặc ít phạm pháp. Một số trong bọn họ còn có thể thông qua thử thách mà trở thành lực lượng trung kiên của chính đảng mới sau đó, có người có thể như Yelsin, và Putin tổng thống Nga đầu tiên, và thứ hai sau khi Liên Xô tan rã (Yelsin, vào thời kỳ cuối nắm quyền mới bắt đầu hủ bại, và Putin cũng vào thời kỳ cuối cầm quyền mới có xu thế độc tài), do vậy mà sự chống đối của “nhóm lợi ích đặc biệt” đối với mọi cải cách dân chủ nhỏ hơn “nhóm lợi ích cướp đoạt”.

Trung Quốc đại lục có câu ca dao sinh động về bắt bọn tham quan ô lại, đại ý là, nếu “bắt luôn cả người đứng cạnh, sợ rằng khó tránh khỏi bắt oan, nhưng nếu cách một người bắt một người, sợ rằng để lọt lưới”, tức là tỷ lệ tham quan ô lại ở đại lục cao vô cùng, số thanh bạch trong “nhóm lợi ích đặc biệt” rất ít. Tuy nhiên số người trong “tập đoàn lợi ích đặc biệt” không nhiều vì phần lớn số “đảng thái tử” đều thuộc “nhóm lợi ích cướp đoạt”.

Nhóm lợi ích chính đáng là những người được hưởng lợi trong cải cách mở cửa nhưng không thuộc “nhóm lợi ích cướp đoạt” và “nhóm lợi ích đặc biệt”. Điển hình của nhóm người này là những thương nhân kinh doanh buôn bán cơ bản hợp pháp vào thời kỳ sau của cải cách mở cửa, những người quản lý cấp cao hoặc nhân viên kỹ thuật cấp cao, phần tử trí thức cấp cao trong các xí nghiệp vốn nước ngoài, xí nghiệp tư nhân và xí nghiệp quốc doanh, v.v.

“Nhóm lợi ích chính đáng” có sự khác biệt về bản chất với “nhóm lợi ích cướp đoạt” và “nhóm lợi ích đặc biệt” nói trên.

Trước tiên “nhóm lợi ích cướp đoạt” là nhóm phạm tội, “nhóm lợi ích chính đáng” là dân lành làm giàu hợp pháp, “nhóm lợi ích đặc biệt” là chỉ “đảng thái tử” được hưởng cơ hội đặc biệt, còn đại bộ phận “nhóm lợi ích chính đáng” là “những người bình thường” dựa vào sự phấn đấu và tài trí của mình mà làm giàu.

Thái độ của “nhóm lợi ích chính đáng” đối với cải cách dân chủ cũng hoàn toàn khác với “nhóm lợi ích cướp đoạt”, cũng không giống với “nhóm lợi ích đặc biệt”. “Nhóm lợi ích cướp đoạt” là kẻ chống đối mọi cải cách dân chủ đến cùng, còn “nhóm lợi ích đặc biệt” nói chung có thái độ tiêu cực đối với mọi cải cách dân chủ, nhưng một số ít có thể trở thành người thúc đẩy.

Trong việc duy trì chính thể hiện hữu tại Trung Quốc, “nhóm lợi ích cướp đoạt” là công thần lớn nhất, nó là hiện tượng cộng sinh, cộng vinh của chế độ một đảng chuyên chính, nó tạo ra một nước vừa giàu có, vừa hủ bại, vừa mở cửa lại chủ yếu dựa vào “mạng lưới hủ bại” để “duy trì hiện trạng”.

Vì sao các nhóm người khác ở Trung Quốc đại lục (những nông dân, công nhân, trí thức bình thường…) lại không được đề cập tới? Đó là câu hỏi mà người giới thiệu bài viết này muốn nêu.

Dương Danh Dy (tóm lược từ Tạp chí Quan sát số tháng 4 năm 2009)

Bài viết cũ hơn »

Chuyên mục

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.