Đăng bởi: quiet_volcano | Tháng Sáu 19, 2009

Làm chính sách ngày càng khó

Công luận, thông qua báo chí và đặc biệt là các đại biểu Quốc hội sắp được bầu, chính là nơi thúc đẩy việc hình thành chính sách có lợi nhất cho số đông thầm lặng mà nếu không, sẽ chẳng bao giờ hình thành được nhóm lợi ích có tiếng nói mạnh mẽ tác động đến chính sách kinh tế.

Ngày trước, cùng với quá trình chuyển từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường, việc xây dựng và thực hiện các chính sách kinh tế tương đối thuận lợi. Những gì tạo điều kiện cho thị trường hoạt động theo qui luật cung cầu dễ được chấp nhận và nhanh chóng đạt hiệu quả cao. Từ khoán nông nghiệp, cho nông dân bán nông sản trên thị trường tự do, đến việc thúc đẩy khu vực kinh tế dân doanh qua các bộ luật kinh doanh ngày càng thông thoáng, cởi mở – tất cả những chính sách này đã tạo sự khởi sắc cho nền kinh tế trong một thời gian ngắn.

Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay, các chính sách kinh tế không còn rạch ròi giữa cơ chế cũ và cơ chế mới như thế nữa; tác động của chính sách ngày nay khó đo lường hơn bởi sẽ có những người hưởng lợi từ chính sách mới và cũng có những người chịu thiệt thòi vì chúng. Chẳng lạ gì, việc hình thành chính sách mới khó khăn hơn; việc dự thảo chúng được tranh cãi nhiều hơn và việc thực hiện chúng đòi hỏi sự theo dõi, điều chỉnh ngày càng tinh tế hơn.

Xin lấy một vài ví dụ gần đây nhất. Quyết định giao quyền định giá xăng cho doanh nghiệp sẽ có lợi cho doanh nghiệp kinh doanh xăng, được chủ động hơn trong kinh doanh, không sợ lỗ và buộc các doanh nghiệp khác tiêu thụ xăng phải hạch toán đầy đủ chi phí, phải có biện pháp tiết kiệm xăng…

Ở hướng ngược lại, nhiều người lo ngại doanh nghiệp sẽ ép giá người tiêu dùng, giá cả sẽ biến động, người hưởng lương cố định sẽ gặp khó khăn hơn. Chí ít, như thừa nhận của Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển: “Bây giờ chúng ta để các doanh nghiệp quyết định giá thì giá miền núi đắt hơn miền xuôi. Cuộc sống là như thế, chúng ta hiện nay chưa cân bằng được, chưa xóa bỏ được chênh lệch giữa miền núi và miền xuôi, giữa thành thị và nông thôn”.

Những chủ trương đang được thí điểm hay dự thảo gây nhiều tranh luận có thể kể thêm chuyện cổ phần hóa bệnh viện và trường đại học. Cũng là theo định hướng thị trường, một khi ngân sách không thể bao quát hết mọi bệnh viện và trường học công thì đành phải “xã hội hóa” bằng cách cổ phần hóa, nhằm vừa nâng cao chất lượng điều trị hay giảng dạy, vừa dùng ngân sách tập trung lo cho các cơ sở công lập khác một cách đầy đủ hơn.

Nhưng có thật qui luật thị trường sẽ tỏ ra hiệu quả trong lĩnh vực này hay chính việc cổ phần hóa sẽ càng làm một số dịch vụ giáo dục, y tế xa dần tầm với của người dân nghèo, tạo ra những bất công mới trong xã hội?

Nhiều ví dụ như thế chứng tỏ chính sách kinh tế hiện nay không còn mang tính kinh tế thuần túy mà liên quan đến nhiều vấn đề xã hội khác. Đứng trước biết bao cân nhắc, đo lường tác động chính sách lên các nhóm lợi ích khác nhau, nhà hoạch định chính sách cần có bản lĩnh hơn bao giờ hết và tối hậu trong các ưu tiên cân nhắc phải luôn luôn là lợi ích của số đông, là sự bền vững của kết cấu xã hội, là sự công bằng tương đối cho càng nhiều người càng tốt, là sự bảo vệ môi trường sống và tương lai của con cháu chúng ta.

Mỗi chính sách khó lòng thỏa mãn hết tất cả các đối tượng chịu tác động, cho nên người hoạch định chính sách tiếp cận vấn đề từ càng nhiều góc độ chừng nào sẽ càng tìm ra nhiều giải pháp chừng đó. Tại sao không nghĩ xa hơn một chút, thay vì cổ phần hóa bệnh viện công, chúng ta có những chính sách khuyến khích sự ra đời của nhiều bệnh viện tư nhân bằng ưu đãi về cấp đất hay miễn thuế, biết đâu nhờ thế mục tiêu ban đầu của việc cổ phần hóa bệnh viện lại đạt được mà không gây xáo động lớn cho ngành y tế?

Ở đây, vai trò một xã hội dân sự với nhiều tiếng nói phản biện đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành chính sách sát với thực tế và đúng với lợi ích của số đông. Chỉ bằng cách khuyến khích nhiều tiếng nói đa dạng, nhiều nghiên cứu khách quan từ nhiều góc độ khác nhau, nhà hoạch định chính sách sẽ có thêm những thông tin mà nếu chỉ chủ quan cân nhắc trong nội bộ sẽ không có được.

Cho dù các ý kiến đóng góp không thể hiện trong chính sách, chúng cũng là những lưu ý sau này để khi triển khai chính sách, người thực hiện sẽ phải quan tâm. Cơ chế kiểm soát gián tiếp các công ty xăng dầu liên kết “làm giá” là một ví dụ. Trong vụ thép Việt – Ý gia công thép ở Trung Quốc đem về bán tại Việt Nam làm tốn khá nhiều giấy mực của báo chí trong thời gian qua, Bộ Thương mại đã có tiếng nói đúng đắn sau cùng.

Nhưng sự lên tiếng ban đầu của Hiệp hội Thép xem ra cũng cần thiết không kém, để nay thép Việt – Ý bán ra thị trường phải làm rõ thép nào sản xuất ở trong nước, thép nào gia công ở Trung Quốc. Nếu không có sự lên tiếng đó, người tiêu dùng có thể không biết và có thể nhầm lẫn.

NGUYỄN VẠN PHÚ

Source: Báo Tuổi Trẻ


Gửi phản hồi

Phản hồi của bạn:

Chuyên mục