I. Độc quyền và đa ngành
Hoạt động kinh tế gắn với lợi ích ở nhiều cấp độ: lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm và lợi ích dân tộc. Nhóm lợi ích được hình thành từ tập hợp những cá nhân và tổ chức có lợi ích tương đồng trong từng lĩnh vực, ngành kinh tế, địa bàn hoạt động. Trong trường hợp lợi ích nhóm hài hòa với lợi ích dân tộc thì nhóm lợi ích có tác động tích cực đến việc thúc đẩy tăng trưởng và hiệu quả kinh tế. Ngược lại, bằng nhiều thủ đoạn từ vận động, thuyết phục, gây sức ép về chính trị, viện cớ bảo vệ lợi ích dân tộc, cho đến mua chuộc bằng tiền bạc …, nhóm lợi ích tìm cách bảo vệ lợi ích của mình bất chấp hiệu quả kinh tế – xã hội của quá trình phát triển.
Trong những năm gần đây, ở nước ta đã nổi lên nhiều vấn đề trong nền kinh tế như tình trạng thiếu điện năng, các tập đoàn đua nhau mở rộng phạm vi hoạt động ở nhiều ngành nghề, các doanh nghiệp gây áp lực với chính phủ để kéo dài bảo hộ mậu dịch; một số địa phương “phá rào”, ban hành nhiều chủ trương vi phạm luật pháp của nhà nước, trái thẩm quyền; một số Bộ sử dụng quyền và thế của mình vượt quá quy định của nhà nước. Những vấn đề đó có liên quan đến hoạt động của các nhóm lợi ích, đang làm tổn hại nghiêm trọng đến lợi ích dân tộc.
Vì sao để xảy ra tình trạng thiếu điện và ai chịu trách nhiệm trước nhân dân về tình trạng đó (?). Điện năng là một loại hàng hóa, nhưng là nguồn năng lượng cho sự phát triển kinh tế; Đảng ta đã nhiều lần nhấn mạnh “điện lực phải đi trước một bước”. Đã từ lâu, việc tổ chức và quản lý ngành điện nước ta theo hướng độc quyền, không cạnh tranh và hiện tại cũng chưa có tín hiệu phá vỡ tình trạng đó, nên ngành điện là điển hình của nhóm lợi ích đang chi phối đáng kể tình hình đầu tư, sản xuất và kinh doanh trên thị trường.
Ngày 3/9/1997, Chính phủ đã phê duyệt Tổng sơ đồ giai đoạn 1996 -2000 có xét triển vọng đến 2010, với mục tiêu đến năm 2010 nước ta sẽ có tổng công suất 19.000 MW, công suất tăng thêm là 1.5260 MW; cho đến tháng 7 năm nay, gần 12 năm chỉ tăng thêm được 8.000 MW (!), đạt hơn 60% mục tiêu, bởi vì nhiều dự án điện đã bị chậm trễ (Vietnamnet 7/7/2007).
Nhằm giải quyết tình trạng thiếu điện, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đề nghị Chính phủ tăng giá điện để có thêm vốn đầu tư và tiết kiệm điện; giải pháp sau đã được nhân dân và doanh nghiệp đồng tình đang thực hiện; nhưng giải pháp trước không có tính thuyết phục, bởi vì ngành điện còn khá nhiều dư địa để giảm giá thành, đất nước cần ổn định giá điện để không gây tác động giây chuyền đến giá cả các sản phẩm khác. Hơn nữa, EVN đang sử dụng một lượng vốn khá lớn để đầu tư vào các lĩnh vực ngoài điện năng như xây dựng khách sạn, mà lẽ ra nên tập trung vào các dự án điện.
Tình trạng chậm trễ trong việc xây dựng các nhà máy điện đang gặp phải trở ngại lớn gắn với tư thế độc quyền của EVN. Tập đoàn này đề nghị Chính phủ không khuyến khích nhà đầu tư nước ngoài xây dựng nhà máy điện theo hình thức BOT ( Đầu tư, 13/6/2007); trong khi theo thông lệ quốc tế, BOT là phương thức thích hợp nhất cho đầu tư trong ngành điện. Chính vì sự chi phối lợi ích nhóm nên đã có một số dự án BOT không được triển khai; điển hình là năm 1998 một tập đoàn điện lực lớn của Mỹ đã được Thủ tướng Chính phủ đồng ý xây dựng dự án nhiệt điện 600 MW theo BOT; nhưng do ngành than thì đòi họ phải mua giá than cao hơn giá thị trường lúc đó, còn EVN thì chỉ cam kết mua điện với giá khá thấp, cuối cùng không thực hiện được.
Hiện nay, các dự án điện năng lớn hàng tỷ USD đang được nhiều nhà đầu tư nước ngoài đầy tiềm năng mong muốn thực hiện đồng loạt, do vậy để chủ trương của Chính phủ gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn mức đã đạt được của năm nay, có thể là hai con số trong thập niên thứ hai của thiên niên kỷ này trở thành hiện thực, thì bài toán điện năng gần như đã có đáp số: phá vỡ tình trạng độc quyền, đặt EVN trở lại đúng vị thế là một doanh nghiệp kinh doanh điện; không được quyền quyết định về việc phát triển nguồn điện cũng như thị trường tiêu thụ điện. Chính phủ định hướng phát triển ngành điện, khuyến khích mạnh mẽ đầu tư trong nước và nước ngoài bằng những chính sách ưu đãi đặc biệt; quyết định khung giá đầu vào và đầu ra cho các dự án BOT và các hình thức đầu tư khác vào điện năng để hướng dẫn các nhà đầu tư, mà EVN cũng là một chủ thể bình đẳng với các đối tác khác.
Trên tờ Thời báo kinh tế Việt Nam ngày 4/12/2007 đưa tin hai sự kiện có liên quan đến PetroViệt Nam đáng được lưu ý: Ngày 3/12/2007 Tập đoàn này đã công bố kết quả cuộc thi kiến trúc và dự kiến sẽ xây dựng Tổ hợp khách sạn 5 sao và căn hộ lớn nhất Hà Nội với vốn đầu tư trên 500 triệu USD; Dự án nhà máy lọc dầu số 1 ở Dung Quất được đánh giá là chậm thêm 6 tháng so với dự kiến gần nhất ( nếu so với ý đồ ban đầu của Chính phủ thì chậm gần 10 năm)(!). Hai sự kiện đó là điển hình của tình trạng phổ biến của nhiều Tập đoàn kinh tế nhà nước; trong khi các công trình trọng điểm đúng chức năng thì chậm trễ kéo dài, nhưng các tập đoàn lại sẵn sàng chi hàng trăm triệu USD đầu tư vào nhiều dự án trong các lĩnh vực khác.
Tập đoàn Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam (Vinashin) sau khi được Chính phủ phân bổ 750 triệu USD trái phiếu quốc tế, đã đầu tư đồng thời nhiều dự án lớn cả trong công nghiệp đóng tàu và vào các ngành khác. Không ít chuyên gia lo ngại rằng, chúng ta có quá ít thời gian để đánh giá kỹ hiệu quả kinh tế của các dự án đó. Giáo sư David Dapice, môt chuyên gia kinh tế người Mỹ đã có mặt tại Việt Nam từ khi bắt đầu đổi mới, rất am hiểu tình hình kinh tế nước ta đã đưa ra một cảnh báo với Vinashin rằng, trong khi một xưởng đóng tàu hiện đại 120 nghìn tấn đang được xây dựng ở Ấn Độ với vốn đầu tư 90 triệu USD, thì Vinashin cần đến 150 triệu USD (Tienphong Online, 19/6/2006 ).
Tập đoàn than và khoáng sản cũng không phải là ngoại lệ. Ngày 29/1/2003, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch khai thác than đến năm 2010 là 22 -24 triệu tấn và 2020 là 29 -30 triệu tấn; dựa trên đánh giá trử lượng than của nước ta không nhiều, cần phải bảo đảm cung ứng nhu cầu đang gia tăng trong nước, chỉ dành phần nhỏ để xuất khẩu. Trong khi đó, năm 2007 sản lượng khai thác than là 40 triệu tấn, gần gấp đôi con số quy hoạch của năm 2010; trong đó hơn một nửa là xuất khẩu, cho dù có kim ngạch khoảng 800 triệu USD, nhưng đất nước cũng phải bỏ ra lượng ngoại tệ khá lớn để nhập điện. Điều đáng mừng là gần đây Chính phủ đã có chủ trương hạn chế và giảm xuất khẩu than.
Đảng và Nhà nước thì muốn doanh nghiệp của mình đóng vai trò chủ đạo trong từng ngành kinh tế; việc hình thành các Tập đoàn cũng hướng vào mục tiêu đó, mặc dù hiện đang có những băn khoăn chính đáng về tính đúng đắn của chủ trương này; tuy vậy điều đáng tiếc là một số Chủ tịch và Tổng giám đốc các Tập đoàn chưa thực sự quan tâm đến việc xây dựng Chiến lược kinh doanh phù hợp với sự phát triển của thị trường trong nước và thị trường quốc tế của ngành và lĩnh vực kinh doanh chính của họ, mà rất thích đầu tư vào nhiều ngành và lĩnh vực kể cả ngân hàng, bảo hiểm trong khi vốn và nguồn nhân lực thì có hạn, lại chưa có tầm nhìn trung hạn và dài hạn.
Đã đến lúc các vị lãnh đạo tập đoàn cần lưu ý đến các số liệu điều tra hàng năm của Tổng cục thống kê về tình hình hoạt động của doanh nghiệp được in thành những tập sách dày nhiều trăm trang và tài liệu của Kiểm toán nhà nước công bố để thấy hết tình trạng đáng báo động về hiệu quả kinh tế của không ít doanh nghiệp nhà nước.
II. Làm gì để hạn chế tiêu cực của nhóm lợi ích
Người dân Việt Nam đang chịu đựng một nghịch lý, thu nhập còn thấp nhưng giá ô tô thì thuộc loại cao nhất thế giới (!). Những nhà hoạch định chính sách cần phải suy nghĩ một cách nghiêm túc về nghịch lý đó; chứ không phải chỉ bằng một vài giải pháp như giảm thuế nhập khẩu và gây sức ép với nhà sản xuất như Bộ Tài chính đã thực hiện. Là một nước công nghiệp hóa sau, nước ta cần học hỏi kinh nghiệm thành công của nhiều nền kinh tế mới ở châu Á như Hàn Quốc, Đài Loan; mở cửa thị trường, hội nhập quốc tế chứ không phải là kéo dài chính sách bảo hộ mậu dịch để gia tăng tỷ lệ nội địa hóa trong điều kiện mỗi nhà sản xuất chỉ có sản lượng tính từng trăm, hoặc nghìn ô tô/năm. Trong điều kiện toàn cầu hóa, Việt Nam cần coi trọng việc tham gia hệ thống sản xuất quốc tế, đầu tư tới hạn vào sản xuất linh kiện sản phẩm để đạt đến quy mô đủ lớn, cung ứng cho các nhà sản xuất thế giới; khi thị trường đã có dung lượng đủ lớn thì tự khắc sẽ chuyển sang sản xuất sản phẩm cuối cùng trong chuỗi giá trị.
Làm thế nào để nhóm lợi ích không thể chi phối, gây tác động tiêu cực đến lợi ích dân tộc (?).
1) Trước hết và quan trọng nhất là chính sách và luật pháp nhà nước phải được hình thành trên cơ sở lợi ích dân tộc, không để các nhóm lợi ích chi phối trong quá trình xây dựng, thông qua và thực hiện. Trong đó cần đặc biệt lưu ý đến chính sách và luật pháp chuyên ngành là mảnh đất mà các nhóm lợi ích quan tâm nhiều nhất, bởi vì trực tiếp tác động đến mọi hoạt động của họ. Các doanh nghiệp được quyền và được tạo điều kiện tham gia quá trình hình thành chính sách và luật pháp, nhưng việc quyết định phải do Nhà nước, để bảo đảm tính khách quan thông qua cơ chế và quá trình thực hiện vì lợi ích chung.
2) Cho đến nay, quy hoạch phát triển từng ngành được giao cho các tập đoàn hay tổng công ty nhà nước xây dựng, sau đó trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt. Tình trạng đó đã tạo ra ưu thế cho các nhóm lợi ích khi họ được trao quyền quyết định sự phát triển từng ngành, lĩnh vực của cả quốc gia (!). Đó là di sản của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu mà sau hơn 20 năm nước ta đổi mới theo cơ chế thị trường vẫn còn được duy trì; trong khi các doanh nghiệp nhà nước khó có đủ tầm nhìn, năng lực và điều kiện để dự báo tình hình và lập quy hoạch phát triển cho cả nước. Thiết nghĩ, đã đến lúc phải trả lại việc quy hoạch ngành cho các cơ quan dự báo và các viện nghiên cứu thực hiện phù hợp với nguyên tắc thị trường và xu hướng hội nhập quốc tế. Tập đoàn, tổng công ty nhà nước trở lại đúng vị thế của họ, kinh doanh bình đẳng trên thị trường.
3) Kinh nghiệm của thế giới đã chỉ ra rằng, các tập đoàn lớn thường có xu hướng tạo ra tình trạng độc quyền bằng nhiều hình thức như thôn tính, sáp nhập, mua lại; đã có nhiều Chính phủ can thiệp bằng mệnh lệnh không cho phép một số trường hợp được thực hiện, để bảo đảm nguyên tắc cạnh tranh trên thị trường. Nhiều tập đoàn ở nước ta mới được hình thành, nhưng đã bắt đầu có những biểu hiện lợi dụng danh nghĩa đóng ” vai trò chủ đạo” để tạo thế độc quyền, sử dụng thương hiệu trong “liên kết”. Tình trạng đó cần được các cơ quan nhà nước lưu ý để có cơ chế thích ứng trong việc điều tiết thị trường, bảo đảm cạnh tranh, chống độc quyền trong mọi ngành và lĩnh vực hoạt động.
4) Các dự án được thực hiện bằng vốn ngân sách nhà nước cần được triển khai đúng với quy định pháp luật về đấu thầu, xét thầu và cấp vốn đầu tư bảo đảm tính công khai và minh bạch; không thiên vị dành ưu tiên cho doanh nghiệp nhà nước; cũng như cần có cơ chế để có thể thực hiện việc giám sát của các cơ quan thanh tra và nhân dân. Trong việc thực hiện cam kết WTO thì chi tiêu chính phủ là một vấn đề đã được nước ta cam kết; do vậy cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành để phù hợp với thông lệ quốc tế, cũng nhằm bảo đảm tiết kiệm và hiệu quả cho đất nước.
Nhóm lợi ích hình thành một cách khách quan; nền kinh tế càng phát triển thì hoạt động các nhóm lợi ích càng trở nên mạnh mẽ vì họ có đủ vị thế, phương tiện vật chất, kênh quan hệ để thực hiện mục tiêu. Các cơ quan nhà nước cần và có thể thông qua cơ chế, chính sách, luật pháp bảo đảm lợi ích nhóm chính đáng; đồng thời hướng vào phục vụ lợi ích dân tộc; không để nhóm lợi ích chi phối trong quá trình ra quyết định, gây thiệt hại cho lợi ích chung.
GS – TSKH Nguyễn Mại
Source: www.vir.com.vn